Canvedo's Blog

Nhật ký mở…

Khủng bố và Xung đột giữa các nền Văn minh P.2

Noam Chomsky [6], một giáo sư về ngôn ngữ học tại MIT ở Boston, viết và thuyết trình rất nhiều sau vụ 11 tháng 9. So với rất nhiều trí thức Mỹ, có thể Noam Chomsky là một người có can đảm nói lên được nhiều quan điểm tương phản với chính sách của chính phủ Mỹ. Tuy nhiên, lối nhìn của Chomsky mặc dù có vẻ rất mới, rất sôi động tại Mỹ, những trí thức bên ngoài nước Mỹ vẫn xem rất xoàng. Nhưng Chomsky vẫn được xem một hiện tượng, một ‘guru’, do ở những nhận xét, căn cứ vào các dữ kiện ông đã thu thập được. Quan trọng nhất, Chomsky cho rằng ‘khủng bố’ từ phía đạo Hồi sẽ chấm dứt khi Mỹ chấm dứt khủng bố các quốc gia khác, các khu vực khác. Đặc biệt, Chomsky nêu danh nhiều quốc gia thuộc phe ‘Liên Hiệp’ như Thổ Nhị Kỳ, Nga, Trung Quốc, v.v. đã từng có thành tích khủng bố những cộng đồng sắc tộc địa phương. Nay họ theo Mỹ để Mỹ và thế giới (Tây phương) có thể quên đi hành vi khủng bố của họ, và đồng thời họ có thể nhận được viện trợ hay điều kiện thuận lợi cho mậu dịch. Chỉ mới chỉ trích sơ sơ và có quan điểm tương phản với chính phủ Noam Chomsky đã bị chụp mũ ‘biện giải’ cho phe địch. Bởi vậy không ai sẽ lấy làm lạ, khi thấy rõ Noam Chomsky khựng lại, và chỉ dùng đến nửa trang giấy [6], khi đề cập đến mối liên hệ mật thiết giữa Mỹ và Israel (Do Thái). Thật ra trong bất cứ quyển sách tham luận nào của trí thức Mỹ, và hình như của trí thức Tây phương nói chung, người ta khó tìm một cuộc phân tích về liên hệ giữa Mỹ và Do Thái. Noam Chomsky, có lẽ được nổi tiếng như một nhà bình luận chính trị nước Mỹ, chỉ vì ông có vẻ rất mạnh dạn với quan điểm chỉ trích chính sách Mỹ – và thỉnh thoảng dám đề cập đến mối dây liên hệ giữa Mỹ và Do Thái [11], mặc dù không sâu hơn bao nhiêu, những gì người ta có thể đọc qua báo chí. Đại khái, liên hệ giữa Mỹ và Do Thái có thể được tóm tắt như phản ánh các điểm đặc trưng sau:

Do Thái là đồng minh trung hậu nhất đối với Mỹ từ khi Do Thái được lập quốc trở lại sau thế chiến thứ 2. Để ý đến liên hệ đồng minh có thể có thay đổi giữa Mỹ và các quốc gia như: Nhật, Đức, Taiwan, China, Vietnam, Afghanistan, Iraq, Iran, Ai Cập, Thổ Nhị Kỳ, Cam-Bốt, … Nhưng giữa Mỹ và Do Thái, trước sau vẫn như một [9].

Do Thái chia xẻ với Mỹ truyền thống văn minh Ju-đà / Ki-Tô, từ xưa đến nay.

Do Thái có thể là một đại diện đáng tin cậy nhất của Mỹ để bảo vệ quyền lợi của Mỹ, nhất là về vấn đề dầu hỏa, ở Trung Đông.

Do Thái, trong sự tồn tại của quốc gia, chính là biểu tượng cho hãnh diện một cường quốc thứ 1 của Hiệp Chủng quốc, trên danh nghĩa bảo vệ tự do, dân chủ, và chống áp bức qua kỳ thị chủng tộc hay tôn giáo.

Việc một nhà trí thức Tây phương dám chỉ trích những gì liên hệ đến Do Thái cũng giống như chuyện một người quẩn trí đem tiền bạc của mình ra đốt. Nhất là ở một quốc gia mang tiếng tự do dân chủ như Mỹ. Chỉ một nhãn hiệu anti-Semitic (chống-Do-Thái, theo nghĩa thường dùng hiện nay) [10], cũng đủ làm sự nghiệp trí thức khoa bảng tan ra mây khói. Nhà khoa học hoặc tư tưởng gia mang tiếng anti-Do-Thái sẽ rất khó xin được tài trợ cho công trình nghiên cứu của mình. Bởi người Do Thái chính thật là những nhà phát minh ra kỹ thuật ‘lobby’, gây ảnh hưởng với tất cả các chính quyền Tây phương, nhất là sau khi thế chiến thứ 2 kết thúc. Ở Mỹ dù có chính phủ Dân Chủ hay Cộng Hoà gì đi nữa, người Do Thái cũng thường xuyên bơm tiền vào những vụ vận động tranh cử, ở mọi cấp: thị trưởng, quốc hội, thống đốc và tổng thống. Ở nhiều bang tại Mỹ, và gần như hầu hết tại các nước Tây phương, thế nào cũng có ít lắm một người Do Thái được xếp vào hạng giàu có, từ hạng 1 đến hạng 10. Họ có đại diện ở khắp các đại học hàng đầu nước Mỹ. Bất cứ giáo sư nào khá nổi ở một đại học lớn, hay bác sĩ y khoa ở một bệnh viện có tiếng, luật sư tại một hãng luật lớn, cũng có những đồng nghiệp hoặc ‘boss’ giỏi hơn, nhưng thuộc gốc Do Thái. Cái nhãn ‘anti-Semitism’ đối với giới trí thức Mỹ, hay ngay cả giới nghệ sĩ hay tài tử xi-nê, ở một phương diện nào đó, cũng mang tính chất giống như cái mũ ‘phản quốc’ hay ‘cấu kết với ngoại bang’ trong một quốc gia chưa được phát triển, hay ở trong tình trạng chiến tranh. Còn nhớ cách đây vài năm, khi phim ‘A beautiful mind’ (Khối óc tuyệt vời) với tài tử Úc gốc Tân Tây Lan Russell Crowe, bắt đầu được đề nghị giải Oscar. Phe chống đối lập tức viện cớ nhà toán học John Nash, nhân vật chính của phim, có thật, hồi trẻ có quan điểm ‘chống-Do-Thái’ (anti-Semitic), để hầu thuyết phục những phiếu chọn giải Oscar sẽ không bầu cho phim ‘A beautiful mind’ đó. Người Do Thái còn có một lợi điểm tối cao: Họ có nhiều ảnh hưởng ở thủ đô phim ảnh Hollywood, hoặc Hollywood phải làm phim theo quan điểm của họ. Thông thường, hướng dẫn lối suy nghĩ, và quan điểm quần chúng cho được phù hợp với quyền lợi và sinh tồn của dân Do Thái. Kết quả, phim ảnh thường đề cao những điểm tốt của xã hội Mỹ. Nhưng rất thường, chỉ những điểm tốt của xã hội Mỹ trong…tương lai. Điển hình, xem phim ảnh Mỹ ta thường thấy vai trò các quan toà thường thường được giao cho tài tử Mỹ đen. Hay thuộc phái nữ. Hoặc vừa phái nữ vừa Mỹ đen. Xếp của FBI hay CIA, nhất là các trạm cảnh sát lớn cũng thường Mỹ đen. Thượng nghị sĩ có ảnh hưởng lớn tại quốc hội, và đôi khi tổng thống, cũng Mỹ đen. Hoặc phụ nữ, hoặc cả hai. Thậm chí những tay chuyên gia về điện toán thuộc phe khủng bố, hay phe công an hình sự cũng thường là Mỹ đen. Khán giả khắp thế giới xem phim Hollywood thường bị nhiễm lối tuyên truyền phe ta phe họ, hồi nào không hay. Người Hoa, người Hàn, người Nhật, người Ấn Độ, người In-đô-nê-xia, v.v. hiện cũng đang áp dụng theo sách vở của người Do Thái, nhất là trong kỹ thuật ‘lóp-bi’ hay giúp quỹ bầu cử tại các nước Tây phương.

B
y giờ xin thử sơ lược về đạo Hồi để có thể tìm hiểu chút ít một vấn đề nóng bỏng của thời đại.

Khác với những ngài khai sinh các tôn giáo lớn trên thế giới, như Phật Thích Ca, Chúa Ki-Tô, đấng giáo chủ Mohammed của đạo Hồi tức Islam (mang nghĩa ban đầu: chịu khuất phục), vừa là một ngài lãnh đạo tôn giáo, vừa là một nhà cai trị, một chiến sĩ, và một tướng lãnh. Mohammed sinh ra đời vào năm 570 sau Công nguyên tại thành phố Mecca (thuộc nước Arabia – Ả rập), về sau trở thành thánh địa của người theo đạo Hồi. Thời còn thanh niên, Mohammed rất thông minh và gây ấn tượng rất tốt cho một goá phụ, chủ nhân của ông. Hai người về sau thành hôn với nhau, khi bà đã 40 tuổi và Mohammad chỉ mới 25. Ở khu vực đó, thời ấy chỉ mới có đạo Do Thái (Giu-đà) và đạo Ki Tô, cùng với những đạo ‘lung tung’ ưa thờ thần mặt trăng và đủ loại thần thánh địa phương kể cả những mảnh đá đen. Vào năm 610, Mohammed một đêm nọ nằm mơ thấy gặp được Chúa Trời Allah, và chỉ một Allah mà thôi. Sau đó ông đem những gì đã được chúa Trời Allah chỉ dạy trong giấc mơ ‘thiên khải’ đó, ra truyền giảng với các đồng hương. Mohammad nhanh chóng gây nên nhiều kẻ thù, sau khi chỉ trích lối thờ phụng nhiều thần thánh ‘lung tung’, nhất là mảnh đá đen.

Không thành công tại Mecca, Mohammed dọn sang Medina, cách đó 400 cây số. Rồi đất lành chim đậu, đạo Muslim hay Islam do Mohammed gầy dựng thu hút được nhiều tín đồ, và Mohammed trở thành nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo ở Medina. Thoạt đầu người Do Thái có vẻ có cảm tình với tôn giáo mới Islam, bởi Islam cũng dựa nhiều trên thánh kinh Cựu Ước như kiểu đạo Do Thái. Nhưng sau đó không lâu ai về nhà nấy, nhất là sau khi Mohammed dạy người Muslim khi cầu nguyện đừng quay mặt về phía Jerusalem nữa mà hãy hướng về Mecca.

Khi đã củng cố được địa vị, Mohammed âm thầm chuẩn bị chiến tranh với giới thương gia chung quanh. Và với tài năng quân sự siêu việt, và sự trợ lực của nhiều sắc dân du mục địa phương trong đó có nhiều người Ki-Tô, ông chiếm được thánh địa Mecca vào năm 630. Hai năm sau ông trở về với Chúa Trời Allah. Đạo Hồi do những người thừa kế Mohammad nắm giữ, tiếp tục phát triển bằng phương cách bạo lực. Quân Islam tiến chiếm rất nhiều lãnh thổ ở khu Trung Đông và đánh đuổi hoặc bắt dân Do Thái, hay Ki-Tô làm nô lệ. Thành phố Damascus thất thủ vào năm 635 và năm sau đến phiên Jerusalem. Đặc biệt Jerusalem – một thánh địa của đạo Giu-đà lẫn Ki-Tô – bị người Muslim chiếm đóng chừng 1100 năm trong khoảng 1300 năm tiếp theo đó. Sau Jerusalem, quân Ả Rập tràn ngập xứ Ai Cập, thiết lập một thành phố mới bên bờ sông Nile mang tên Cairo.

Những thế kỷ tiếp đó, đã chứng kiến Hồi giáo, với quyển thánh kinh Koran (Qur’an), tiếp tục lan tràn mạnh mẽ. Bằng đường bộ lẫn đường thủy. Vào Âu Châu, vùng đất bao la phía Bắc Phi Châu, Nga La Tư, Trung và Nam Á, tập trung ở Pakistan (khoảng 136 triệu tín đồ Muslim), Ấn Độ (trên 100 triệu), xâm nhập Trung quốc (40 triệu), và biến In-đô-nê-xia thành một quốc gia có số tín đồ Islam (172 triệu) đông đảo nhất thế giới. Tổng cộng ngày nay Hồi giáo có chừng 1 tỷ 300 triệu tín đồ trên khắp thế giới, chỉ đứng hàng thứ 2 sau Thiên Chúa Giáo [7].

So với các tôn giáo khác, Muslim có những điểm đặc trưng sau đây:

giữ một vài tính chất tà đạo, vô thần ‘pagan’, phản ánh quyền lực thiên nhiên – của thời xa xưa, khi ánh sáng văn minh chưa chiếu đến Âu Châu. Điển hình, địa vị của mặt trăng trong Islam, có vẻ sáng tỏ hơn rất nhiều tôn giáo khác. Với biểu hiệu, trăng hình lưỡi liềm. Lịch của Muslim dựa trên chuyển vận của mặt trăng chứ không phải mặt trời [7]. Cũng giống giống như ‘âm lịch’ người Hoa đã cóp từ Trung Đông. Bởi vậy cho nên tháng tuyệt thực Ramadan (không được ăn từ lúc mặt trời mọc cho đến mặt trời lặn) cứ luôn luôn thay đổi so với dương lịch.

Rượu bị tuyệt đối cấm chỉ. Nhưng có một thứ giải khát xuất xứ từ thế giới Á Rập lại được phép hâm mộ và uống thả cửa. Đó là cà-phê [15].

Islam đưa ra những luật bảo vệ luân lý rất gắt gao. Trên danh nghĩa họ bảo vệ phụ nữ rất chặt chẽ – theo kiểu luân lý của Muslim. Đàn bà che mặt trước công chúng, không được quyền luyến ái bừa bãi, đụng đâu thương đó, v.v. Nhưng đối với thế giới Tây phương, người ta thường xem đạo Hồi đặc biệt áp bức phụ nữ, chứ không phải bảo vệ gì hết [14]. Đáng kể nhất, theo đạo Islam, đàn ông giàu có, được quyền có đến 4 vợ.

Tuy nhiên, ở một góc nhìn nào đó, cũng có thể thấy nhiều người phụ nữ Muslim vẫn chấp nhận truyền thống vai vế khác nhau dựa trên phái tính. Bằng chứng, trong thời rất gần đây hoặc hiện tại, có đến hai quốc gia Muslim đã từng có nguyên thủ quốc gia thuộc phái nữ, trước cả Pháp, Đức, Úc và Hoa Kỳ. Đó là thủ tướng Benazir Bhutto của Pakistan, và tổng thống Megawati ở Inđô-nêxia. Cả hai vị nguyên thủ phái nữ này đã được dịp vươn lên trên các đối thủ chính trị nam phái, và không hề đề nghị cải cách gì hết đối với vấn đề nam nữ bình quyền. Chứng tỏ họ chấp nhận và rất trọng những giáo lý của Islam, và kinh Koran. Nói cách khác giáo lý Islam thích hợp với văn minh và văn hoá Islam.

Đi hành hương về chốn thánh địa Mecca là một nguyên lý cốt tủy của đạo Muslim.

Đạo Muslim có vẻ như ‘độc thần’ (monotheism) tuyệt đối. Người ta khó hoặc không thể thấy bóng dáng một vài thánh khác có quyền lực gần bằng Allah, nhất là thuộc phái nữ, như Đức Mẹ đồng trinh Maria của Công giáo, hay Quan Thế Âm Bồ Tát trong Phật giáo.

Cũng giống với Ki-Tô giáo, đạo Islam mang tính chất ‘truyền bá’. Tứ
c những người theo đạo Hồi hoặc KiTô luôn có bổn phận truyền bá đạo mình cho những người ‘ngoại đạo’. Khác với Ấn độ giáo và Giu-đà, thông thường chỉ dành riêng, tuần tự, cho người Ấn hoặc người Do Thái mà thôi.

Cũng giống với Ki-Tô, đạo Hồi mang nặng tinh thần ‘nhị nguyên’, ‘đối đãi’. Có hoặc không. Nóng đối với lạnh. Lên và xuống. Ta và họ. Thắng hay Thua. Sức lực và phản lực. Khác với tinh thần ‘bất nhị’ của Phật giáo.

Theo sử gia Úc Geoffrey Blainey [7], cứ nhìn vào những nguyên tắc chính của Muslim, người ta có thể nhận ra rằng Mohammad có vẻ đã có ‘khải tượng’ đạo Muslim sẽ trở thành một đạo duy nhất ở khu Trung Đông và nếu được, toàn cầu. Nhận xét này có vẻ cùng điệu với rất nhiều sử gia và giáo sư khác hiện nay, khi nghiên cứu vấn đề ‘tại sao Muslim có vẻ lúc nào cũng đặt khối Tây phương, với đạo Ki-Tô như đối thủ của cạnh tranh, ghen tị, và thù hận với nhau’.

Người thiên sứ cuối cùng của chúa Trời Allah mang tên Mohammad cũng là một nhà cai trị và một tướng lãnh. Bản chất nguyên thủy, thuở ban đầu của Muslim trong việc truyền bá đạo vẫn là dùng bạo lực qua việc chinh phục lãnh thổ. Với một số tín đồ khổng lồ 1 tỷ 300 triệu, đạo Muslim là một tôn giáo lớn của thế giới. Muslim đã mang lại niềm tin, an ủi và yên lành cho một số đông con người trên thế giới, qua bao nhiêu thế cuộc thăng trầm. Geoffrey Blainey [7] đã vọng lại lời phê bình của một học giả Ki-Tô W.R. Inge: ‘Những quốc gia nhỏ đã khiến nhân loại chịu ơn họ gồm có: Israel (Do Thái), Athens (Hy Lạp), Florence (Ý), Anh quốc dưới thời Elizabeth I’. Và Blainey đã đề nghị thêm vào danh sách đó, thành phố Medina của thiên sứ Mohammad. Do đó, một phân tích nghiêm túc về xung đột hiện nay giữa Tây phương và Islam (Hồi) có lẽ rất cần xử dụng quan điểm ‘Islam đã có đóng góp lớn với nhân loại’ làm khởi điểm.

Ngày nay, nếu có bước vào một hiệu sách lớn ở một thành phố lớn nào đó thuộc một quốc gia tiên tiến, ta sẽ thấy trên giá sách thuộc đề mục ‘thời sự’ hoặc ‘chính trị’ đầy dẫy những quyển sách mới mẻ do những nhà trí thức hay giáo sư đại học tại Mỹ, Anh, Úc, … viết và bình luận, về xung đột hiện nay giữa khối Hồi giáo, thường được gọi nôm na ‘fundamentalists’ (cơ bản), và Tây phương dẫn đầu bằng Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Với một trong những đối tượng được bảo vệ là Do Thái.

Đủ thứ lý thuyết. Quyển nào viết cũng hay cả. Bao nhiêu trí thức thì bấy nhiêu lý thuyết. Có thuyết nói ‘phản kháng của giới Muslim’ là đối kháng tất yếu của việc ‘toàn cầu hoá’ văn minh và mậu dịch (Thí dụ: Amy Chua). Rất nhiều sách đề tên Noam Chomsky, nhưng thật ra thường chỉ gồm các cuộc phỏng vấn Noam Chomsky chứ không do Noam Chomsky bỏ công sức ra biên soạn (Thí dụ: ‘A Fateful Triangle’ [11]). Nhưng sôi nổi nhất, vẫn là thuyết về ‘xung đột giữa các nền văn minh’ (the Clash of Civilizations) [8] của giáo sư đại học Harvard, Samuel P. Huntington. (Từ đây về sau xin gọi tắt: thuyết ‘Clash’, hoặc thuyết ‘xung đột văn minh’, hay thuyết Huntington).

Huntington đầu tiên viết bài ‘The Clash of Civilizations’ đăng trong tạp chí ‘Foreign Affairs’ vào năm 1993. Theo tác giả, bài báo gây nhiều chấn động trong giới trí thức toàn cầu, và tranh luận sôi nổi trong suốt 3 năm liền Bài báo đã gây nên nhiều tranh luận nhất trên ‘Foreign Affairs’ kể từ những năm sau thế chiến thứ 2, thời 1940’s. Thu lượm chi tiết các cuộc tranh luận, Huntington đào sâu thêm từng tiết mục và viết lại thành một quyển sách dày 367 trang mang tựa ‘The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order’ (Cuộc xung đột giữa các nền văn minh và việc tái thiết lập trật tự thế giới’).

Để tìm hiểu thêm đặc tính và cội nguồn của ‘khủng bố’, trong bối cảnh thời sự hiện nay, sau đây chúng ta thử dùng luận thuyết Huntington làm tiêu biểu, và đi vào một số chi tiết trình bày trong quyển sách đó.

Quyển sách chia làm 5 phần:

Phần 1: Lần đầu tiên, thế giới trở nên đa cực và đa-văn-minh. Việc canh tân phải được xem như khác với việc ‘theo mốt Tây phương’. Cả hai sẽ không đưa tới một nền văn minh phổ quát toàn cầu, và cũng không thể Tây phương hoá được những xã hội không phải Tây phương.

Phần 2: Cân bằng lực lượng đang thay đổi, với ảnh hưởng Tây phương bị suy giảm. Văn minh Á Đông nới rộng tầm ảnh hưởng kinh tế, quân sự và chính trị. Trong khi thế giới Hồi nổ tung ảnh hưởng đến khắp nơi, với hậu quả làm mất sự quân bình, ổn định tại các quốc gia Islam, và láng giềng.

Phần 3: Trật tự thế giới dựa vào các nền văn minh đang ló dạng. Những xã hội có chung văn hóa, sẽ hợp tác với nhau. Trong khi nổ lực biến đổi xã hội từ nền văn minh này qua nền văn minh khác sẽ gặp thất bại chua cay. Nhiều nước, cùng chung một văn minh, sẽ họp đoàn với nhau chung quanh quốc gia đàn anh biểu tượng cho cốt lõi của nền văn minh đó.

Phần 4: Sự kiêu căng về tính phổ quát toàn cầu của Tây phương sẽ đưa Tây phương đến chỗ xung đột với các nền văn minh khác, đặc biệt thế giới Muslim và Trung quốc. Để ngăn chận chiến tranh lan rộng, các quốc gia cốt lõi sẽ tìm mọi cách để ngăn chận chiến tranh.

Phần 5: Việc tồn tại của Tây phương tùy thuộc vào Mỹ quốc, xác nhận được lý lịch căn cước của Tây phương. (Điểm này có vẻ rất khó, bởi ai cũng còn nhớ thành tích chủ nhân thuộc địa của phương Tây). Để rồi nhìn nhận văn minh Tây phương chỉ độc sáng chứ không phải phổ quát toàn cầu. Và hợp nhất lại, b
o tồn nền văn minh đó trước thử thách của những xã hội không-Tây-phương.

Nhìn chung, Samuel P. Huntington hiện thức luận thuyết ‘xung đột’ của ông, chỉ hai ba năm sau khi Liên bang Sô Viết sụp đổ. Trước mắt, chiến tranh lạnh giữa hai khối Tự Do-Cộng sản chấm dứt. Bất cứ ai cũng có thể thấy cục diện của ‘trật tự thế giới’ sẽ thay đổi. Thuyết Huntington đưa ra nhằm phỏng đoán những gì sẽ xảy đến cho môt trật tự mới trên thế giới, sau-Chiến-tranh-lạnh. Theo đó, thế giới sẽ bao gồm tình trạng đa-cực và đa-văn-minh. Ý niệm ‘xung đột giữa các nền văn minh’ có vẻ cũng không phải đơn thuần xuất khởi từ Samuel P. Huntington. Nhưng đầu tiên được đề cập đến bởi một học giả hàng đầu về vấn đề Islam, Bernard Lewis vào năm 1990: ‘The roots of Muslim Rage’ (Cội rễ của phẫn nộ Muslim) [12].

Huntington dành nguyên Chương 2 để thảo luận về civilization, về ‘văn minh’. Thật một vấn đề hết sức phức tạp, ở nghĩa hẹp cũng như nghĩa rộng. Nghĩa hẹp của civilization cũng giống như ‘văn minh’ trong tiếng Hán và Việt. Bao hàm một sự phân biệt nào đó với ‘man rợ’ hoặc bán khai, nhất là khi dùng như một hình dung từ: ‘Civilized’. Thí dụ: ‘Cô A lúc này ăn mặc ‘văn minh’ quá xá. Ý là cô chỉ mới lên Sàigòn sống có mấy tháng thôi’. Ở nghĩa rộng, ‘văn minh’ có vẻ dễ bị chi phối bởi nghĩa hẹp. Do đó đôi khi người ta phải kèm theo một hình dung từ nữa (như ‘rực rỡ’) để phân biệt thứ văn minh thông thường, ở nghĩa rộng – với văn minh sáng chói, văn minh rực rỡ, trong nghĩa hẹp. Tiếng Anh, người ta ưa gọi ‘great civilization’, để minh định nghĩa hẹp. Mặt khác, ‘Văn minh’ vẫn thường bị lẫn lộn với ‘văn hoá’ [13]. Theo thiển ý, bất cứ một xã hội nào tạo dựng được một thể chế nhà nước, hay gần như nhà nước, và tồn tại được vài trăm năm, xã hội đó đã có một nền văn minh. Thí dụ: văn minh Phù Nam, văn minh Đông Sơn. ‘Văn minh’ là một ý niệm mô tả phương cách và đặc tính sinh hoạt của xã hội, nằm trên và bao trùm những mô tả khác về tổ chức và giềng mối của xã hội. ‘Văn hoá’ lại khác. Văn hoá thường được hiểu như một bộ phận chính yếu của văn minh. Thành tố chính yếu của văn hoá chính là ‘ngôn ngữ’. Cũng theo thiển ý, ‘văn hoá’ không được hoàn toàn giống y như ‘culture’, bên tiếng Anh. Theo từ điển Meriam-Webster, ‘culture’ mang tất cả 4 nghĩa. Trong đó có nghĩa = ‘cấy giống’, và, = ‘những niềm tin thói tục, dạng thức xã hội, những nét tính vật chất của một nhóm chủng tộc, tôn giáo hoặc một nhóm người trong xã hội’. Bởi ‘culture’ mang ý nghĩa ‘cultivation’, cấy giống, ‘culture’ trong ý nghĩa ‘văn hoá’ có vẻ bao hàm một cái gì còn sinh tồn, còn ‘quậy được’. Tức ‘văn hoá’ liên kết với thời ‘hiên tại’. ‘Văn hoá’ hiện còn tiếp diễn, chứ không phải văn hoá đã bị tắt lịm từ lâu. Ở khía cạnh khác, ‘culture’ khác với ‘văn hoá’ ở chỗ, theo định nghĩa Meriam-Webster, ‘culture’ có thể quy vào những ‘nét tính của một nhóm người trong xã hội’. Thí dụ: những nhóm như Ái Hữu Công Chánh, cựu học sinh trường trung học Chu Văn An hoặc Gia Long hay Đồng Khánh, sinh viên Kiến Trúc, sinh viên Y Khoa, binh chủng nhảy dù, không quân, hiệp hội tương tế Quảng Nam, Bắc Ninh, Tây Ninh, giới Hippies ở các quốc gia Tây phương thời 60-70, … đều có thể nói có những ‘culture’ riêng, hơi đặc thù một chút, chút xíu thôi, theo tiếng Anh. Nhưng tuyệt đối, trong tiếng Việt, không ai nói ‘họ có văn hoá’ riêng! Thậm chí, những lưu học sinh đi học từng quốc gia Tây Phương cũng phát triển ra những culture riêng biệt. Thí dụ: ‘chổng culture’ của nhóm sinh viên ex-kiwis, cũng thường gọi nôm na bằng Mitchong, đã từng du học tại Tân Tây Lan. Bởi họ có những lối nói chuyện với nhau, những vụ tụ tập bạn bè, những sở thích khác nhau theo từng nước, phản ánh ‘culture’ chung của nước họ đã đến du học. Culture của giới Hippies cũng vậy. Nó có những đặc tính riêng như: để tóc dài, ưa cài hoa trên tóc, ăn mặc hơi … ‘lôi thôi’, không thích chiến tranh, cổ vũ hoà bình, thích âm nhạc [16], v.v.. Thông thường và gần như luôn luôn, tiếng Việt không dùng ‘văn hoá’ để mô tả hoặc thay cho ‘culture’, cho những nhóm người trong xã hội như vậy. Tức ta không thể nói ‘văn hoá của nhóm Mitchong’, hay ‘văn hoá giới Hippies’, nhưng có thể nói ‘Mitchongs‘ culture’ hoặc ‘Hippies’ culture’. Như vậy, kích thước của ‘culture’ dài và rộng hơn ‘văn hoá’ rất nhiều. ‘Culture’ có thể được dùng cho một nhóm người nhỏ (chừng 100) luôn cho đến cả dân tộc. Nhưng ‘văn hoá’ luôn luôn bị gò bó với một cộng đồng to lớn, chứ không đa dạng được như ‘culture’.

Trở lại với luận thuyết ‘xung đột’ của Huntington. Tác giả dành nguyên chương 2 để thảo luận về ‘văn minh’ và văn hoá. Đặc biệt và đáng nhớ, tôn giáo là một bộ phận cốt lõi của văn minh. Theo Huntington, hiện nay có tất cả 6 nền văn minh: Tây phương, Trung Hoa, Nhật bản, Ấn độ, Chính thống (Orthodox), và Châu Mỹ La-tinh. Và 7 nền văn minh, nếu kể cả Phi Châu.

Theo thuyết ‘xung đột’, trái với tuyên truyền của trào lưu ‘toàn-cầu-hóa’, nhân loại sẽ không bao giờ hay rất khó đạt đến một nền văn minh duy nhất cho toàn cầu. Những quốc gia có chung một thứ văn minh sẽ quây quần hợp đoàn với nhau và sẽ có hành vi theo nhịp với quốc gia cốt lõi của nền văn minh đó. Thí dụ, đối với văn minh Tây phương Mỹ là quốc gia cốt lõi, đàn anh. Các quốc gia đàn em khác trong cùng văn minh, như các quốc gia ở Tây Âu, Úc, và Anh quốc, v.v., sẽ có hành vi đối với các nền văn minh khác theo như khuôn thước của quốc gia cốt lõi (core state), tức theo kiểu của Mỹ.

Và chiến tranh sau này sẽ không gây ra bởi ý thức hệ, mà sẽ bùng nổ bởi khác biệt ở văn hoá và văn minh. Chiến tranh sẽ xảy ra giữa các quốc gia thuộc các nền văn minh khác nhau.

Trong cơ bản, thuyết Huntington hãy còn một vài lấn cấn trong định nghĩa và phân loại các nền văn minh. Tác giả nhìn nhận không rõ lắm về văn minh H
indu (Ấn Độ), và đưa ra phân loại 6 hay 7 nền văn minh khác nhau cho thế giới. Một mặt có vẻ khá chính xác, nhưng mặt khác dễ đưa luận thuyết đến ngõ cụt. Thí dụ: văn minh Nga thuộc thứ nào? Đông hay Tây? Có thể làm quốc gia cốt tủy cho khối Orthodox hay không? Hy Lạp, măc dù theo Orthodox có nhìn đến Nga như một quốc gia đàn chị hay không. Rồi Nhật, một quốc gia cốt lõi cho riêng văn minh Nhật mà thôi. Tại sao Nhật, chỉ một quốc gia lại có một nền văn minh riêng biệt, trong khi Phi Châu cả một lục địa gồm nhiều quốc gia khác nhau, lại chỉ có thể (hoặc không có) một nền văn minh Phi Châu riêng biệt. Liệu các nước mệnh danh theo nền văn minh Khổng Tử tức văn minh Trung Hoa, như Việt Nam, Hàn quốc, Singapore, sẽ nhìn Trung Hoa như quốc gia cốt lõi đàn anh, trong một cuộc xung đột với văn minh khác như văn minh Muslim ở Inđônêxia hay không?

Phân biệt thế giới hiện chỉ có đến 6 nền văn minh chính, sau khi loại bỏ Phi Châu, thật ra là một thứ phân loại có vẻ hơi bị lấn cấn. Nó có vẻ dựa vào việc nhìn xem nhóm hoặc quốc gia nào có thể tạo nên thế lực thách thức được sức mạnh kinh tế và quân sự của Mỹ và Tây phương, rồi gán ghép một thứ văn minh cho mỗi một nhóm hay quốc gia đó. Nó có vẻ như việc một giáo sư toán tìm ra giải đáp một bài toán, xong rồi tạo dựng đề toán cho thích hợp với giải đáp. Như một tiểu thuyết gia tìm ra được một dàn ý câu chuyện khá hay, rồi mới bắt đầu tạo dựng từng nhân vật một cho quyển tiểu thuyết đó. Phân loại đó có vẻ chỉ chú tâm đến khả năng quân sự và kinh tế – và dùng 2 tiêu chuẩn đó để xác nhận và phân loại các nền văn minh. Như vậy, thuyết ‘xung đột’ có thể gặp lấn cấn, bởi:

Làm lơ Phi Châu như một khối, có thể chưa có một nền văn minh đặc biệt, tựu trung chỉ áp dụng được cho riêng thuyết ‘xung đột’ mà thôi. Như vậy vô hình chung, thuyết ‘xung đột’ làm mất đi tính khoa học. Như đã trình bày ở trên, bất cứ một cộng đồng xã hội nào đã tiến đến, và sinh tồn trong, hình thái nhà nước, hay gần-nhà-nước, trong vòng vài trăm năm – đều có một nền văn minh. Ở một mặt khác và nói theo kiểu tiếng Anh, ‘trong vỏ hạt đậu’ (đại khái), nếu cộng đồng nào sản xuất được một vĩ nhân hay danh nhân thế giới, cộng đồng đó chắc chắn có một nền văn minh. Phi Châu ở thế kỷ 20 đã có Nelson Mandela, như vậy Phi Châu đã có một nền văn minh riêng biệt từ khuya.

Ngay đến từng khối văn minh, người ta cũng thấy văn minh – theo thảo luận của thuyết ‘Clash’ – vẫn thay đổi với thời gian. Thay đổi cho thích hợp với luận thuyết.

Trước hết thử xem văn minh Trung Hoa (Sinic), hiện nay ưa dùng hoán chuyển với văn minh Khổng Tử (Confucius). Nhưng hồi trước lại khác. Người ta còn nhớ, thời Mao Trạch Đông, Mao ra sức hạ bệ Khổng Tử bởi có thể ông đã tin rằng chủ thuyết Maoism của ông sẽ đưa nước Tàu ra khỏi nghèo đói. Nhưng không. Đến khi Đặng Tiểu Bình từ trại lao động trở lại Bắc Kinh, họ Đặng thấy trên bàn thờ tổ quốc có chỗ trống, mới khôi phục và mời Khổng Tử tái xuất giang hồ. Rồi từ đó về sau, Trung quốc thuận ý cho các quốc gia khác gọi nước họ quốc gia có nền văn minh Khổng Mạnh.

Nước Nga cũng vậy. Trước khi Huntington viết bài ‘Clash’ chừng 5 năm, nếu ai có hỏi một người nào đó gần gũi với điện Kremlin, ‘người Nga các anh thuộc văn minh’ nào. Chắc chắn câu trả lời là: ‘thuộc văn minh xã hội chủ nghĩa’. Vậy mà chỉ sau khi Liên Xô sụp đổ, Huntington cho văn minh Nga thuộc loại Orthodox chính thống. Thật ra, rất hiếm khi có thứ văn minh nào lại có thể thay đổi soành soạch như vậy được. Nga trở thành quốc gia cốt lõi của văn minh Chính Thống, nhưng không thấy bảng liệt kê các quốc gia đàn em. Và cũng khó thấy một quốc gia khác có văn minh Orthodox đàng hoàng, như Hy Lạp có thể nhìn Nga như một quốc gia đàn chị lãnh đạo thế giới Orthodox. Thật ra, vào một chương cuối của quyển sách, tác giả có vẻ gián tiếp cho biết việc gán ghép Nga làm quốc gia cốt lõi cho văn minh Orthodox mang tính gượng ép. Bằng cách cổ xúy các quốc gia Tây phương hãy nhìn nhận Nga là quốc gia đại diện cho văn minh Orthodox, cùng những quyền lợi của quốc gia lãnh đạo này đối với những lãnh thổ Orthodox chung quanh.

Chính Huntington cũng mặc nhiên nhìn nhận điểm lấn cấn trong phân loại văn minh theo thế chiến lược của ông. Điển hình nhất là Nhật. Nhật vừa là quốc gia cốt lõi cho văn minh Nhật và cũng đồng thời là các quốc gia đàn em theo chính mình mà thôi. Điểm này cũng có phần chính xác, bởi người Nhật trong tâm tư ít khi xem mình là dân Á Châu. Cũng giống như một quốc gia ‘hải đảo’ khác bên Đại Tây Dương, Vương quốc Anh, đôi khi cũng xem mình như thuộc Âu Châu, khi thấy có lợi cho họ. Nhưng thường thường, không.

Huntington cũng xác nhận ‘văn minh’ Mỹ đã có thay đổi. Trước thế chiến thứ 1, Mỹ ưa có quan điểm đối nghịch với Âu Châu. Họ xem Âu Châu như một xã hội đầy giai cấp, thiếu phóng khoáng, thuộc về quá khứ. Mỹ biểu hiện cho tương lai, tự do, bình đẳng và tràn đầy cơ hội. Sau hai cuộc thế chiến, Mỹ hoà mình trở lại với Âu Châu và đảm nhận vai trò lãnh đạo nguyên khối Tây phương, bao gồm cả Âu Châu.

Huntington cũng cho thấy mối quan tâm chưa được nhất quán của ông đối với quốc gia đàn em thuộc một nền văn minh nào đó, như Việt Nam. Ở một chỗ, Huntington cho Việt Nam sẽ theo về phía văn minh Trung quốc, với Trung quốc là minh chủ của nền văn minh này. Ở một trang gần cuối quyển sách, Huntington đưa ra một hoạt cảnh, ‘scenario’, giả dụ Trung quốc choảng với Việt Nam vì tranh chấp mấy khu vực dầu hỏa ở biển Nam Hải. Việt Nam lúc đó mới cầu cứu minh chủ nền văn minh Tây Phương là Hoa Kỳ. Hoa Kỳ thuận giúp, đúng vào lúc quân Tàu đã tràn đến Hà nội, nhưng Nhật lại trở mặt, sợ mất lòng minh chủ Tàu nên không cho phép phi cơ Mỹ đáp xuống các căn cứ thuộc lã
nh thổ Nhật.

Cũng không thấy tác giả sắp xếp Do Thái thuộc thứ văn minh nào. Chắc chắn Do Thái không thuộc văn minh Hồi, và cũng không thể gọi Do Thái là một nước có truyền thống hoặc văn minh Tây phương.

Huntington cũng giống như nhiều học giả Tây phương khác, thấy nước Nhật giàu mạnh, có đầy đủ khả năng kinh tế và tiềm năng quân sự, vội cho rằng họ có một nền văn minh riêng biệt, và họ chính là ‘quốc gia cốt lõi’ của riêng họ. Thật ra quốc gia nào cũng vậy. Nếu Huntington thử cho Miến Điện (Myanmar) nhìn vào Thái Lan như một core state (quốc gia cốt lõi đàn anh), thuộc nền văn minh nào đó, bảo đảm sẽ thấy dân Miến Điện phản đối liền. Tương tự, Cam Bốt chắc chắn sẽ tự nhận mình có nền văn minh riêng biệt. Không giống Việt Nam và cũng không thể theo Thái Lan.

Tương tự, Huntington có vẻ như dồn In-đônêxia và Mã Lai vào nhóm văn minh Hồi. Đối với văn minh Hồi, thuyết ‘xung đột’ lại ngập ngừng viết rằng văn minh Hồi hiện chưa có ‘quốc gia’ cốt lõi hay minh chủ, ở vai đàn chị. Chỉ biết nhiều quốc gia đang nổ lực dành lấy vai trò cốt lõi đàn anh: Thổ Nhị Kỳ, Pakistan, Iran, và Inđônêxia. Điểm này có vẻ hơi khác với hiện thực. Điển hình, Thổ Nhị Kỳ, theo những trang khác của quyển ‘Clash’ đang ve vãn Âu Châu để được vào Cộng Đồng Âu Châu (European Union) và có hai xu hướng mâu thuẫn tại Thổ: một theo Tây phương, một trở lại với Hồi giáo thuần túy. Nhớ lại, Thổ Nhị Kỳ là hậu duệ của một đế quốc Hồi thứ dữ, đã từng đô hộ Hy Lạp trên 400 năm: đế quốc Ottoman. Nhưng hiện Thổ rất khắn khít với văn minh Mỹ, tạm gạt bỏ Islam để chạy theo văn minh Euro và Dollar. In-đô-nê-xia đang muốn yên thân bởi kinh tế nước này trong mấy năm qua đang suy sụp do bất ổn chính trị. In-đô-nê-xia lừng khừng ngay từ cuộc chiến tranh vùng vịnh ở thời Suharto, cho đến chiến tranh Iraq, gần đây.

Huntington cũng cho Taiwan & Singapore thuộc quốc gia đàn em của văn minh Trung quốc. Ngoài ra còn có thể có Hàn quốc và … Việt Nam. Rất khó đồng ý với một viễn tượng các quốc gia theo kinh tế thị trường từ khuya như Taiwan, Singapore và Hàn quốc có thể chạy theo Trung quốc, và xem nước này như minh chủ, trong chính sách đối ngoại với các nền văn minh khác, như Nhật hay Islam (In-đô-nê-xia và Mã Lai).

Đặc biệt, Ấn Độ cũng là một quốc gia cốt lõi của riêng văn minh Ấn. Nhưng cũng không thấy danh sách các quốc gia đàn em trong nền văn minh Ấn Độ. Xung đột giữa văn minh Tàu và Ấn vẫn chưa thấy. Ngược lại, thế giới ghi nhận từ lúc Hồ Cẩm Đào lên thay Giang Trạch Dân, bang giao Ấn – Hoa phát triển mãnh liệt, kéo theo gia tăng thương mại giữa hai nền văn minh lớn ở Á Châu. Kinh tế Ấn hiện đang phát triển mãnh liệt và khác với mô hình Trung quốc, được dựa vào công nghệ dịch vụ, thi công tạo ra ‘phần mềm’ của điện toán cho các công ty lớn Âu Mỹ.

Hai ‘khối’ khác, Châu Mỹ La Tinh và Phi Châu, cũng giống như khối Islam, hoàn toàn không có quốc gia cốt lõi đàn chị. Huntington quan sát Châu Mỹ La Tinh đang lo Tây phương hoá. Trong khi cả khối LaTinh và Phi Châu không có tiềm năng quân sự đáng kể. Đến đây, tác giả có cho biết hai quốc gia mạnh ở Phi Châu là Nam Phi và Nigeria. Nam Phi có thể tái vũ trang nguyên tử, trong khi Nigeria có thể phát triển vũ khí hạt nhân và lăm le nhìn vào ngôi vị ‘cốt lõi’ văn minh Phi Châu.

Tháng Hai 25, 2009 - Posted by | Lịch sử-Quân sự-Chính trị, Uncategorized |

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: