Canvedo's Blog

Nhật ký mở…

Khủng bố và Xung đột giữa các nền Văn minh P.3

<![CDATA[

Tác giả thuyết ‘xung đột’ cũng thẳng tay gạt những quốc gia theo đạo Phật như Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Cam-Bốt, ra ngoài 6 nền văn minh lớn, nếu không kể Phi Châu. Và cho rằng rất khó sắp xếp họ vào một nền văn minh nào hết, với lý do Phật giáo có phân chia ra Đại Thừa và Tiểu Thừa. Đây là một lý do bề ngoài cho thấy rõ tác giả chỉ chú tâm phân loại những nền văn minh có thể đối chọi với Mỹ và Tây phương trong tương lai gần mà thôi. Tức định nghĩa ‘văn minh’ của thuyết ‘Clash’ đã hoàn toàn bị chi phối bởi cái nhìn chiến lược của Mỹ và khối Tây phương, trên phương diện quân sự và kinh tế. Thật sự nếu lấy lý do ‘nền văn minh Phật giáo còn đang phân ly’ (Đại-thừa và Tiểu-thừa), nền văn minh nào cũng lâm vào tình trạng đó hết. Ki-Tô có Công giáo và Tin-Lành, vẫn còn choảng nhau ở Ái Nhỉ Lan. Islam có 2 phe chính: Chiites và Sunnites, còn đâm chém nhau dài dài.

Thuyết ‘xung đột’ có vẻ vẫn thiếu hỗ trợ bằng dẫn chứng lịch sử. Ngay ở các nền văn minh Tây phương cũng không thuần nhất. Trong quá khứ, chỉ cách đây vài chục năm, vẫn có chiến tranh giữa Đức và Anh, Đức và Pháp, Ý và Anh, v.v. mặc dù các quốc gia này vẫn có nền văn minh Tây Phương như mẫu số chung. Ở Ái Nhĩ Lan, xung đột vẫn thường xảy ra giữa hai khối Tin Lành và Công giáo, cùng chung một nền văn minh, một thứ ngôn ngữ.

Để hỗ trợ cho luận thuyết ‘chiến tranh trong tương lai sẽ bùng nổ giữa các nền văn minh với nhau’, tác giả đã viện dẫn cuộc chiến tranh giải phóng Afghanistan và chiến tranh vùng Vịnh vào cuối thập kỷ 90’s. Để cuộc thảo luận cho được công bằng đôi chút, chúng ta nên tránh dùng những dữ kiện, hoặc chứng cớ lịch sử xảy ra sau năm 1996. Ngay ở chính 2 cuộc chiến tranh này, cũng có thể thấy thuyết xung đột có vẻ thiếu thốn một chút ít dẫn chứng mạnh mẽ, thiếu thốn sức thuyết phục.

Đối với chiến tranh Afghanistan, ở phía trước tác giả viết chính là chiến tranh quyết định sự sụp đổ của Liên Xô, để rồi đưa đến kết thúc chiến tranh lạnh. Nhưng sau đó, thuyết ‘xung đột’, bằng cách ghi nhận Islam là tôn giáo chính của người Afghanistan, đã dán lên đó nhãn hiệu ‘chiến tranh giữa các nền văn minh’.

Chiến tranh vùng Vịnh lần đầu cũng vậy. Thoạt đầu tác giả mô tả nó như chiến tranh về tài nguyên, giữa Iraq và Kuwait. Kế tiếp, quyển sách mô tả phe này phe kia ở chiến tranh vùng Vịnh, người ta thấy phe Hồi theo Mỹ cũng đông kinh khủng. Gồm có: Ai Cập, Syria cộng với Pakistan, Morocco, và Bangladesh. In-đô-nê-xia lừng khừng đứng bên ngoài, và không quyết định dứt khoát. Nhưng đến câu cuối kết luận, lại viết, đại khái, đó là một trận giặc ‘tài nguyên’ giữa các nền văn minh với nhau. Tức các nền văn minh đã tranh chấp nhau vì ‘tài nguyên’ chứ không phải bởi khác nhau trong ‘cung cách văn minh’.

Cả hai cuộc chiến tranh, Afghanistan và vùng Vịnh, không thấy các quốc gia minh chủ cốt lõi choảng với nhau, mỗi bên được một đống đàn em cùng một nền văn minh hỗ trợ. Theo với thuyết ‘xung đột’. Mà chỉ thấy những liên minh tạm thời giữa những nền văn minh khác nhau. Iraq, dù có liên minh cũng không bao giờ được xem như quốc gia minh chủ của khối Hồi.

Tóm lại bởi thuyết ‘Clash’ có vẻ sắp xếp văn minh theo khả năng quân sự và kinh tế, có thể cạnh tranh hay thách thức khối Tây phương, thuyết ‘Clash’ rất khó được áp dụng vào mọi trường hợp phổ quát, trong tương lai.

Nhưng thuyết ‘xung đột’ vẫn có rất nhiều điểm rất hay ho của riêng nó.

Trước hết, nhìn lại thời chiến tranh lạnh, ta thấy rõ ràng có hai phe đối chọi với nhau. Tự Do (Tây) và Cộng Sản (Đông). Mỗi phe chỉ có một quốc gia cốt lõi đứng đầu: Mỹ và Nga. (Trung quốc lúc đầu đứng ở bên Đông). Và mỗi phe có rất nhiều quốc gia đàn em đi theo. Bây giờ, nếu xem hai khối Đông và Tây như hai nền văn minh khác nhau. Mỗi một nền văn minh dựa trên một thứ tôn giáo khác nhau. Cả hai thứ tôn giáo đều mang tính chất ‘truyền bá’. Ta sẽ thất rất rõ: Thuyết ‘xung đột giữa các nền văn minh’ của Samuel P. Huntington thật ra đã hoàn toàn dùng bối cảnh và thông số của ‘Chiến Tranh lạnh’ làm mô hình. Thuyết xung đột, trình bày với dạng đa văn minh, đa cực, do đó chỉ là một hình thức ‘ngoại suy’ của mô hình về ‘chiến tranh lạnh’ mà thôi. Từ lưỡng cực và lưỡng văn minh (Đông và Tây), của chiến tranh lạnh, đổi sang đa cực và đa văn minh.

Như vậy đối tượng chính của thuyết ‘xung đột’ là nhằm vào những khối ‘văn minh’ hiện có tiềm năng quân sự và kinh tế, có thể thách thức văn minh Tây phương, đặc biệt Mỹ – dựa trên kinh nghiệm và mô hình của chiến tranh lạnh. Các đối tượng chính yếu gồm: Khối Muslim, Trung quốc, và Nhật Bản. Điểm rất hay của thuyết ‘xung đột’ là thay vì nêu đích danh các khối hoặc quốc gia có vẻ không ưa thích Tây phương, mà Mỹ là đại diện, thuyết lại gói ghém các nước này trong ‘phân loại văn minh’ để cho luận thuyết được tính cách êm đẹp, ‘chính xác chính trị’, politically correct. Ngoài ra, dùng danh từ ‘văn minh’ cũng tránh được thảo luận về tôn giáo. Tôn giáo thật ra cũng không đích thực là cội rễ của xung đột. Thảo luận về khác biệt tôn giáo cũng có thể rất lôi thôi dài dòng. Mà có đến hàng chục quyển sách chắc cũng không thông suốt được. Huntington đã dùng lối người Tàu và Việt thường gọi ‘ẩn dụ’ để thảo luận về một vấn đề khá nóng bỏng, nhưng vẫn tránh được va chạm trực tiếp đến các quốc gia liên hệ.

Một số chi tiết khác khá gay cấn được trình bày đầy đủ trong quyển ‘Clash’ gồm có sự suy sụp và xuống dốc của thế lực Tây Phương hiện nay, và trong vài chục năm tới. Một sự suy sụp không thể nào tránh khỏi, tiến hành song song với sự vùng lên của những nền kinh tế Đông Á, và đặc biệt, việc tiến bước giận dữ của khối Muslim. Đại khái, dân số thế giới dưới chỉ huy chính trị của Tây phương suy giảm từ 44 phần trăm vào năm 1900, xuống đến 13 phần trăm v
ào năm 1995 và 10 phần trăm, năm 2010. Đặc biệt Huntington xác nhận trong tương lai, Mỹ không thể nào đảm trách vai trò cảnh sát quốc tế, và chỉ đủ sức gửi quân đội đến một chiến trường mà thôi. Những chiến trường khác phải do các nền ‘văn minh địa phương’ đảm trách.

Quan tâm hàng đầu của việc suy giảm thế lực Tây phương chính là việc phân tán vũ khí qua ‘biên giới các nền văn minh’, và việc tích tụ tăng gia các thứ vũ khí tiêu hủy khối lớn (VTK), tức Weapons of Mass Destruction (WMD). Âu lo nhất là việc hợp tác giữa 3 nền văn minh. Văn minh Nga buôn bán vũ khí cho văn minh Trung quốc. Trung quốc bán lại vũ khí cho ‘văn minh’ Islam, và những nước cực đoan trong cùng một nền văn minh, như Bắc Triều Tiên.

Huntington cũng cho biết đầy đủ, qua viện dẫn nhiều tác giả khác, những điểm đặc trưng của nền văn minh Tây phương, và cho rằng phải xem đó như một nền văn minh độc sáng chứ không thể nào phổ quát toàn cầu được. Những điểm đặc trưng của văn minh Tây phương gồm có:

Christianity tức đạo Ki Tô, bao gồm Công giáo Catholicism và Tin Lành Protestantism.

Thừa hưởng di sản từ những nền văn minh rực rỡ xa xưa: Văn minh, triết lý, và ý niệm dân chủ của Hy Lạp, Luật lệ La Mã, ngôn ngữ và văn hoá La-tinh, v.v.

Đặc biệt việc tách rời giữa Đạo với Đời. Nguyên thủ quốc gia, mặc dù theo đạo Ki Tô, nhưng không chịu ảnh hưởng hoặc khuất phục trước vị lãnh đạo tôn giáo đó. Đây là một đặc tính rất quan trọng, tạo nên một trong những căn nguyên của nền dân chủ pháp trị. Nó rất khác với đạo Islam, thông thường lãnh đạo tôn giáo giữ vai trò tối thượng. Khác với khối Chính Thống Orthodox, lãnh đạo tôn giáo giữ vai vế quan trọng sau nguyên thủ. Khác với Á Châu, điển hình Nhật và Trung quốc, lãnh tụ tức là Trời [17]. Khác với cả Tây Tạng, đức Lạt Ma cũng là nhà lãnh đạo chính trị.

Lề luật của Pháp luật (tạm gọi tắt: Pháp Lệ, Rule of Law). Người Tây phương rất hãnh diện về hệ thống Pháp lý của họ. Trên hết là Rule of Law (tạm dịch: Pháp Lệ). Tóm tắt, trong vỏ hạt đậu, Pháp Lệ được thể hiện bằng tinh thần bình đẳng trước pháp luật, và thượng tôn của luật pháp (vua và thường dân đều có cuộc sống quý giá như nhau – và phải được xử như nhau trước pháp luật). Chuỗi trình tiến hoá của ‘Pháp lệ’ đã kéo dài hàng trăm năm, và đã đưa đến văn minh pháp trị (dựa vào Hiến Pháp), tôn trọng quyền con người, tôn trọng quyền sở hữu của cải đất đai, và tối kỵ với việc xử dụng quyền hạn bất chợt, thiếu tính pháp định.

Đa diện xã hội (social pluralism): tiêu biểu bằng các nhóm người trong xã hội quây quần với nhau không vì lý do chung một thứ huyết thống (tức bà con họ hàng), hay chung quê cha đất tổ, mà lại có cùng chung một thứ quyền lợi, một thứ nghề nghiệp, một loại thương mại mậu dịch với nhau. Biểu tượng của ‘đa diện xã hội’ là các hiệp hội, hay nghiệp đoàn, các khối tôn giáo, giới nông dân, giới quý tộc, …. Theo nhiều học giả, chính sức mạnh của khối quý tộc phong kiến đã hạn chế bớt quyền hành của vua chúa Âu Châu, trong những thế kỷ cần cho việc thiết lập nền dân chủ các nước Tây phương. Trong khi đó, tại Nga, Trung Hoa, và đế quốc Ottoman (tiền thân Thổ Nhị Kỳ), trung ương tập quyền vẫn tiếp diễn dài dài không để dân chủ có cơ hội đâm chồi nẩy lộc. Có thể để ý nước Nhật đã may mắn có đủ các thức gia vị, khoảng thời Minh Trị – nhất là quyền hành của các sứ quân, y như giới quý tộc phong kiến Âu châu – để có thể thực hiện món canh tân và xây dựng một xã hội dân chủ tiên tiến.

Cơ quan đại biểu: là kết quả tất yếu của ‘đa diện xã hội’. Phản ánh qua việc thiết lập quốc hội. Dùng quốc hội như một diễn đàn phát biểu ý kiến về quyền lợi, nguyện vọng của từng nhóm trong xã hội.

Chủ nghĩa cá nhân: Những thành tố của văn minh Tây phương phía trên – cộng với những chủ thuyết từ Ki-Tô giáo – sẽ đương nhiên dẫn đến tôn trọng cá nhân, và chủ nghĩa cá nhân. Trong một cuộc xơ-vây 50 quốc gia, 20 quốc gia tiên tiến có số điểm cao nhất về chủ nghĩa cá nhân, gồm tất cả các nước Tây phương, trừ đi Bồ Đào Nha và Do Thái.

Tất cả những yếu tố phiá trên lại dẫn đến một đặc tính khác nữa người Tây phương vẫn thường hãnh diện: Modernity, tức ‘có khả năng cập nhật hoá’. Lúc nào cũng có thể biến đổi cho hợp thời, cho được ‘hiện đại’. Thật ra tính chất Modernity, theo thiển ý, các nền văn minh sáng chói khác như Tàu và Nhật xưa nay vẫn có, và có thể biểu hiện y như Tây phương. Điển hình các loại truyện chưởng, kiếm hiệp Tàu của Kim Dung. Đó chính là hình thức của ‘modernity’. Của ‘hiện đại’. Truyện chưởng Kim Dung đã đổi mới những dạng thức truyện kiếm hiệp xưa cũ. Kể cả việc các phim tập kiếm hiệp được quay đi quay lại nhiều lần, cũng với mục đích hiện đại hoá, kiếm thêm đô-la. Tương đương ở Tây phương, những phim James Bond. Điệp viên 007 cũng luôn luôn thay đổi tính tình, khuôn mặt, cách yêu đương, … để bắt kịp với Modernity. James Bond đã quay được trên 20 phim và có lẽ sẽ còn xuất hiện dài dài, nhờ ở ‘modernity’. Nước Nhật cũng vậy. Xe hơi, đồ gia dụng của Nhật,… cũng luôn thay đổi để giữ vững mức thu nhập của đồng Yen, cho hợp với mức độ biến chuyển của Modernity. Câu nói ‘bình mới rượu cũ, hoặc bình cũ rượu mới’ của người Á Đông khi xưa đã xác nhận ‘hiện đại’ hay ‘modernity’ cũng là một đặc tính có sẵn của nền văn minh Á Đông.

Ở một hai chương của quyển sách, thuyết xung đột cũng đề cập đến khác nhau giữa việc ‘canh tân’ hay ‘hiện đại hóa’ (Modernization) và ‘Tây phương hoá’ (Westernization). Đặc biệt, các quốc gia Đông Á trên đà phát triển kinh tế hiện nay càng ngày càng vững niềm tin ở chính nền văn minh của họ, và cho rằng ‘canh tân’ không nhất thiết phải cần đến ‘Tây phương hoá’. Huntington báo động đừng nên ngạc nhiên khi thấy các
nền văn minh khác Tây phương cũng có sức bền bỉ, và vẫn có thể phát triển kinh tế, mang lại phú cường, mà không cần phải theo kiểu dân chủ hay mô hình Tây phương. So với các nền văn minh khác, ta có thể thấy thế giới Islam là thế giới ít chịu Tây phương hoá nhất. Các nhà lãnh đạo thường cổ xúy dân chúng không xài TiVi, đồng hồ đeo tay, và những sản phẩm tiêu biểu của Tây phương. Quần áo cũng vậy. Ngày nay các nhà lãnh đạo Trung quốc đều đã vứt đi những chiếc áo kiểu Mao Trạch Đông hồi còn nghèo thời xa xưa, và chỉ mặc những bộ suit ‘Âu’ phục, láng coóng, hàng hiệu kiểu Yves St Laurens, Gucci, BOSS, Pierre Cardin, được đặt may theo ni tấc đàng hoàng. Ở Fiji cũng vậy, người ta thấy những chính trị gia tuy mặc váy Sari phía dưới (cho mát), nhưng phía trên vẫn mặc áo veste, áo sơ-mi hàng ngoại Made in Italy, và ca-vát-tê đàng hoàng. Chỉ có Osama Bin Laden và giới lãnh tụ phía Hồi hiện vẫn chưa cần đến ‘Âu phục’ mà thôi. Mặc dù, trong thời gian họ đi du học ở Mỹ, họ vẫn mặc T-shirts quần jean như ai. Tuy vậy một mẩu tin gần đây cho biết thế giới Hồi cũng đang thu nhập ‘Modernity’ qua việc cho phép người Hồi được quyền giải phẫu để thay đổi phái tính (transvestites).

Huntington cũng nhấn mạnh việc tiêu dùng hàng hoá Tây phương, như ăn hamburger Big Mac, uống nước giải khát Coca Cola, xem phim ảnh Hollywood, … chỉ cho thấy cái vỏ bên ngoài của Tây phương hoá. Cốt lõi văn minh Tây phương không nằm ở trong bánh Magna Mac, nhưng ở hiến chương Magna Carta tức một hiến chương ký kết vào năm 1215, mang tính lịch sử ở Anh quốc, hạn chế bớt quyền hành của vua. Tây phương hoá, theo Huntington, thường chỉ xảy ra với giới trí thức elites mà thôi. Đối với khối đông quần chúng, Tây phương hoá vẫn là một chuyện không tưởng. Huntington đưa ra thí dụ về 3 luật sư hoàn toàn Âu hoá, từng du học ở Anh: Mohammad Ali Jinnah (Oxford), Harry Lee (Cambridge) và Solomon Bandaranaike (Lincoln’s Inn). Cả ba trở về nước của họ trở thành các nhà lãnh đạo quốc gia. Và trong tiến trình đó, họ thay tên đổi họ, cách ăn mặc (như đã đề cập với truờng hợp Osama Bin Laden kể trên), và ngay cả tín ngưỡng để phù hợp với khối quần chúng. Mohammad Ali Jinnah về Pakistan, đổi tên thành Quaid-i-Azam, và lãnh đạo luôn tôn giáo Hồi mặc dù khi ở Anh y không có thói quen cầu nguyện gì hết. Harry Lee trở thành Lee Kwan Yew (Lý Quang Diệu), học tiếng quan thoại và thường xuyên đề cập đến luân lý Khổng Mạnh. Solomon Bandaranaike, một người theo đạo Ki Tô dòng, chuyển sang đạo Phật, và trở thành biểu tượng cho phong trào quốc gia của người Sinhalese ở Tích Lan.

Một điểm khác cũng khá thú vị, của quyển ‘Xung đột’, là phân tích một số quốc gia luôn bị giằng xé không biết nên nhảy theo nền văn minh nào (torn countries). Thí dụ như Thổ Nhị Kỳ phải chọn lựa giữa Hồi và Tây phương. Nga bị do dự giữa Orthodox và Tây phương. Mễ Tây Cơ, giữa Mỹ La tinh và Tây phương. Úc, nhất là Úc, ở thời thập kỷ 80 sang 90, bị giằng co giữa Á Châu và Tây Phương. Theo Huntington, qua nhiều dẫn chứng, muốn tự chuyển sang một nền văn minh khác rất khó. Khó nhất là được sự chấp thuận của toàn dân, và sự thuận ý cho gia nhập của nền văn minh, quốc gia đó muốn gia nhập. Thất bại của Úc trong việc ve vãn gia nhập nền văn minh Á Đông là bằng chứng cụ thể nhất.

Nhận xét của Huntington có vẻ cùng điệu với định nghĩa khủng bố ở trên gồm có:

thật ra phong trào chống Tây phương của giới cơ bản Hồi hiện nay, thường gọi ‘jihad’, không khác mấy với những cuộc viễn chinh ‘crusade’ của thế giới Ki Tô ở Âu Châu đánh vào phe Hồi, tranh giành thánh địa, xảy ra vào thế kỉ 11-13.

Đạo Islam thường mang tiếng ‘truyền bá’, chiêu mộ tín đồ, bằng chiến tranh xâm lược. Nhưng Huntington cho biết đạo Ki Tô cũng vậy, nhưng chỉ khi nào có cơ hội mà thôi.

Quan trọng nhất, thuyết xung đột nêu lên mối quan tâm của việc bắt tay giữa hai nền văn minh lớn để đối chọi với Tây Phương: Islam và Trung quốc. Trung quốc đã, đang và sẽ bán vũ khí cho khối Islam để đổi lấy dầu hỏa. Vũ khí Trung quốc, một phần được sản xuất tại chỗ, một phần mua lại, thường ‘second-hand’, từ Nga Sô. Mặt khác, sức ép của Mỹ với Trung quốc bằng vần đề nhân quyền, và với Nhật bằng việc hứa bảo vệ an ninh, đã bắt đầu mất hiệu nghiệm.

Nhìn chung:

Qua phân tích về các đặc tính của văn minh Tây phương ở trên, có thể thấy những đặc tính đó đều dẫn đến một nền kinh tế thật vững mạnh, hỗ tương cho một nền văn minh thiên nhiều về cơ giới, về vật chất và tiện nghi của đời sống hàng ngày.

Phe Islam, nhất là giới cơ bản có lẽ rất khó chịu trước lấn lướt của văn minh Tây phương trên toàn cầu và trên mọi địa hạt. Sự tràn ngập của văn minh Tây phương, nhất là kinh tế, điển hình qua tất cả những mặt hàng tiêu thụ, đặc biệt phương tiện và mội trường truyền thông trong những thập kỷ gần đây, trở thành một mối đe dọa lớn cho tồn vong của tín ngưỡng Islam.

Mối đe doạ đó bắt nguồn từ những xung đột của hai hệ giá trị của hai nền văn minh khác nhau.

Việc vươn lên của một nền văn minh xưa cũ như Trung quốc cũng gây cho khối Islam chút ít niềm tin và hy vọng. Bởi căn cứ vào lịch sử. Thế giới Ki Tô ở Âu Châu trong thời ‘crusade’ cũng vừa đạt đến một nền văn minh, chỉ ngang ngửa, bằng với văn minh của Islam mà thôi. Trong những cuộc crusades đó có khi Tây phương bị đại bại bởi Islam, nhất là trong thời của tướng Hồi Saladin.

Khối Islam có lẽ cảm thấy họ phải làm một cái gì để chuộc lấy nhục nhã, và suy sụp ‘đạo pháp’, triền miên kể từ khi quốc gia Israel được thành lập vào năm 1948. Trong chiều hướng đó, có lẽ họ xem Đông Á như một mô hình có thể giúp họ tìm cách vươn lên. Họ có vẻ bắt chước lối Kamikaze của những phi đội cảm tử xứ Phù Tang, lối hara-kiri (mổ bụng tự sát) của võ sĩ đạo Nhật, đánh giặc biển người của Trung quốc, lối tự thiêu để hy sinh cho Phật
pháp ở Nam Việt Nam trong thập niên 60, và du kích chiến của Việt Cộng. Trong áp dụng du kích chiến, họ đã chọn ‘khủng bố’ làm phương tiện cốt lõi, cải biến chút ít nhờ học hỏi từ phim ảnh Hollywood, để cho hợp với ‘hiện đại’ hoặc Modernity.

Một trong những đề nghị sau cùng Huntington đã đưa ra trước khi kết thúc luận thuyết ‘xung đột’ của ông, là Mỹ và khối Tây phương nên từ bỏ ước mơ dùng văn minh Tây phương để toàn cầu hoá nhân loại. Việc đó, Huntington nhấn mạnh, chỉ là một việc làm điên rồ và vô luân. Bởi Tây phương hoá thường đi đôi với chủ nghĩa đế quốc. Thay vào đó Huntington đề nghị các nền văn minh nên tìm hiểu những mẫu số chung về giá trị, về cơ viện, để tìm cách phát triển thêm ra. Để tránh bớt xung đột giữa các nền văn minh. Từ đó sẽ tránh được chiến tranh.

Có một hai điểm dính líu đến văn minh, Huntington có vẻ đã lướt qua nhanh, và không vào chi tiết. Trước hết, đặc tính ‘cực chẳng đã mới cần đến chiến tranh, mới tham chiến’ dựa trên những nguyên tắc cơ bản xưa cũ của truyền thống Giu-đà và Kitô. Điểm này chính ra đã được biểu hiện qua chính sách cô lập của Mỹ trước thế chiến thứ 1 và thứ 2. Thường được thể hiện qua những phim cao bồi western từ Hollywood [18]. Nhưng rồi phát triển kinh tế mãnh liệt của Tây phương trong vài mươi năm cuối thế kỷ 20, đã tạo nên một sức ép khiến những nhà lãnh đạo chính trị và quân sự phải bỏ lại đằng sau nguyên tắc ‘hiếu hoà’ mang ảnh hưởng tôn giáo đó. Đặc biệt chiến tranh Iraq đã đi ngược hẳn và hoàn toàn hủy bỏ nguyên tắc ‘tránh đánh giặc’ của văn minh Giu đà – Ki Tô. Tấn công Iraq trong khi Iraq không có gây hấn hay tuyên chiến với Tây phương. Chỉ có một lý do khả dĩ có thể biện minh cho việc tấn công Iraq: Lý do răn đe. Nhưng răn đe cũng thuộc vào phân loại ‘khủng bố’ như trình bày phía trên [20]. Nếu nhìn kỹ ra, văn minh rực rỡ của Trung quốc, Ấn Độ và Nhật Bản cũng tràn đầy những thứ nguyên tắc hiếu hoà, giống y như truyền thống Giu-đà-Ki-Tô. Trung quốc có Thiếu Lâm Tự và những truyện võ hiệp kỳ tình. Có những nhà sư ngoài công việc ‘thiền định’ còn luyện tập võ nghệ với nhau, hay truyền lại cho người khác. Với mục đích chính là tự vệ, phòng ngự, chứ không phải đi đánh người khác. Võ nghệ và sức mạnh, thường được cổ xúy, chỉ dùng để bênh vực kẻ yếu đánh lại kẻ áp bức. Văn minh Ấn Độ đã sản xuất thánh Gandhi, cổ vũ phong trào chống đối chính quyền thuộc địa Anh bằng phương thức ‘bất bạo động’. Nhật bản có giới Samurai, trong những lúc lang thang tìm ‘job’ với một sứ quân minh chủ nào đó, cũng thường dùng ‘bênh vực kẻ yếu’ làm phương châm.

Điểm khác, Huntington, như bao nhiêu trí thức Tây phương khác, đã có lối suy nghĩ một chiều qua lối dùng chữ ‘westernization’, tức Tây phương hoá. Để ý rất ít khi người ta thấy người Âu Mỹ dùng ‘Easternization’, hay Đông phương hoá. Đồng thời với ý niệm Tây phương hoá, Huntington có vẻ như cho rằng ‘văn minh’ là một thứ gì bất biến. Đông là Đông – Tây là Tây. Điểm này rất phức tạp. Rất khó minh định những ‘bộ phận’ hay thành tố của văn minh có thể chuyên chở qua lại với các nền văn minh khác. Trí thức Tây phương thường lại thiếu nhất quán, về vấn đề này. Có nhiều thành tố, Huntington cho rằng rất dễ chuyên chở qua lại. Nhưng có vẻ Huntington cho rằng cốt lõi của văn minh Tây phương, như những truyền thống về dân chủ, pháp lệ, chủ nghĩa cá nhân, tách rời Đạo và Đời, rất khó ‘xuất khẩu’ sang một nền văn minh khác. Nhưng nếu nhìn kỹ, đặc biệt nếu tìm hiểu mục đích tối hậu của việc ‘Tây phương hoá’ là gì – vấn đề có thể lập tức được nới ra thật rộng. Và cũng có thể thấy, ở một mặt, những truyền thống cốt lõi của văn minh Tây phương, có vẻ rất khó được xuất khẩu sang Á châu. Nhất là nếu đòi hỏi được thực hiện trong một thời gian ngắn. Ở một mặt khác, người ta có thể thấy các xã hội Á Châu đang tìm về những mô hình thành công của nền văn minh xưa cũ của họ. Một trong những mô hình đó chính là cái mốt cần đến Thái Thượng Hoàng. Mô hình này hiện càng ngày càng được hâm mộ, được cóp khắp nơi. Vài mươi năm trước ở Nhật có thủ tướng Tanaka. Sau khi bị mất chức thủ tướng Tanaka vẫn giữ vững ảnh hưởng trong hậu trường, định đoạt ai sẽ được làm thủ tướng trong nhiều năm. Chức vụ ‘Thái Thượng Hoàng’ ở Trung quốc được Đặng Tiểu Bình ghép vào chức ‘Chủ tịch ủy ban quân sự’ trong nhiều năm, và đến cuối đời ông không cần chức gì hết ngoài chức vụ ‘hội trưởng câu lạc bộ đánh bài Bridge’. Hiện nay Giang Trạch Dân đang đảm nhận chức vụ ‘chủ tịch ủy ban quân sự’ trong tư cách Thái Thượng Hoàng. Lý Quang Diệu chơi chữ, cho hợp với văn minh Tây phương ông đã thấm nhuần, gọi đó là ‘Thượng tổng trưởng’, sau khi hết làm thủ tướng. Và ông vẫn giữ chức vụ này cho đến ngày nay. Theo dự trù, con trai của Lý Quang Diệu sẽ lên làm thủ tướng Singapore vào khoảng cuối năm 2004. Ở Mã Lai, thủ tướng Mahathir đang nhiên xin nghỉ hưu sớm, trong khi ảnh hưởng cá nhân hãy còn mạnh trên chính trường..

Trở lại việc ảnh hưởng qua lại của văn minh, nhất là ở cái vỏ bên ngoài. Trên phương diện khái quát, có thể thấy văn minh Tây phương đã lấn lướt các nền văn minh khác. Đặc biệt ở các cơ viện và tổ chức quốc gia, tổ chức quân đội, nền thương mại, tài chánh, các ngành kinh tế, kỹ nghệ, và hệ thống giáo dục (tiểu học, trung học, đại học, và trường dạy nghề). Ở khía cạnh lối sống, văn minh Tây phương nổi bật ở chỗ: quần áo và kiểu tóc (thủ lãnh mọi quốc gia trên thế giới, và mọi giới trong xã hội, có lẽ trừ khối Islam, ưa mặc Âu phục, và cắt hoặc uốn tóc theo kiểu Tây phương), tiện nghi vật chất (xe hơi, xe gắn máy, máy lạnh, điện thoại, Tivi, internet,…), hoạt động các tôn giáo, tổ chức các phương tiện truyền thông như báo chí, truyền thanh, truyền hình, và …hôn nhau bằng môi [19], v.v. Ảnh hưởng Tây phương trên các cộng đồng phi-Tây phương trên thế giới đã liên tục tiếp diễn theo với giao lưu giữa các nền văn minh, bắt đầu từ thế kỷ thứ 16. Khi Âu Châu bắt đầu hùng mạnh, có những thương thuyền và chiến thuyền đi tìm thị trường thương mại, cùng với việc đánh chiếm thuộc địa ở khắp nơi.

]
]>

Tháng Hai 25, 2009 - Posted by | Lịch sử-Quân sự-Chính trị, Uncategorized |

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: