Canvedo's Blog

Nhật ký mở…

NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU VÀ NGUYỄN TRIỀU CHI BẢO

Danh dự của Gò Công là xuất sanh hai bà Hoàng Hậu, Mặc dù rằng nhà Nguyễn không cho đặt chức vị Thái Tử và Hoàng Hậu. Vì đặc thù của hoàn cảnh lịch sử bà Từ Dủ được tiếng là người đẹp, thông minh và hiền đức, được tuyển vào cung từ năm 14 tuổi. Từ chức vụ Cung Tân rồi hai năm sau phong làm Thành Phi, sáu năm tiếp theo bà thành Giai Phi và rồi Ðệ Nhất Giai Phi. Vào cuối đời Thiệu Trị nhà vua muốn phong cho bà là Hoàng Hậu

Nguyễn Văn Nhựt

Người đẹp thứ hai là Nam Phương Hoàng Hậu, đã ba lần đoạt chức hoa hậu Ðông Dương. Ðược vua Bảo Ðại sủng ái và phong làm Nam Phương Hoàng Hậu.

Nam Phương Hoàng Hậu được vua Bảo Ðại tín nhiệm và ban chiếu chỉ để quản thủ “Nguyễn Triều Chi Bảo”.

Nguyễn Triều Chi Bảo là gồm một Quốc Ấn và một cây Quốc Kiếm. Ấn Kiếm nầy tượng trưng cho uy quyền của hoàng triều đời Nguyễn. Nhưng bộ Ấn kiếm nầy hiện giờ đang ở đâu ? Ðây là câu hỏi và cũng là một nan vấn cho các nhà nghiên cứu sử liệu, cũng như các nhà yêu nước muốn cho các quý vật nầy được châu về hợp phố vì họ cho rằng đây cũng là một phần danh dự của quốc gia dân tộc Việt Nam mình.

Ôn lại lịch sử Việt Nam, thấy nhiều chuyện cũng ngộ nghĩnh, thích thú. Nhất là trong nội cung triều Nguyễn. Tác giả xin trích vài đoạn để Ðồng Hương tường lãm và cùng trả lời các câu hỏi thích thú sau đây:

1- Hai vị vua nào là hai anh em cột chèo ?

2- Ai là con vua mà lấy hai chồng làm vua?

3- Vua nào đãi cát tìm vàng để “Nạp Phi”?

4- Vua nào lấy chú làm con ?

5- Ai là vợ cả vợ hai, hai vợ đều là vợ cả?

6- Vị Công Chúa nào sống lâu nhất ?

7- Cặp Ấn Kiếm Triều Nguyễn hiện giờ ở đâu?

1-HAI VỊ VUA NÀO LÀ ANH EM CỘT CHÈO? :

Ðó là vua Gia Long và Quang Trung Nguyễn Huệ.

Hai kẻ cừu địch không đội trời chung, đánh nhau long trời lỡ đất mà là anh em cột chèo ? Thật vậy, vì Vua Quang Trung Nguyễn Huệ lấy công chúa Ngọc Hân, còn Vua Gia Long Nguyễn Ánh lấy Ngọc Bình Công Chúa (Hai chị em )

2- AI LÀ CON VUA MÀ LẤY HAI CHỒNG LÀM VUA ?

Sau 26 năm lưu lạc, ngày 15 tháng sáu năm 1801, được sự trợ chiến của súng đồng, đại bác của phương tây, Nguyễn Ánh đã trở lại đô thành Phú Xuân. Vua Cảnh Thịnh lúc nầy đã bỏ ngai vàng, ấn tín, sắc phong của nhà Thanh chạy ra miền Bắc bằng đường núi với 2 ngàn lính và 60 thớt voi. Người vợ trẻ của ông là công chúa Ngọc Bình cùng một số cung nử không kịp theo vua đều sa vào vòng vây của quan quân Nguyễn Ánh.

Ngồi ẩn mình trong cung, bà Ngọc Bình nghe có tiếng chân đi về phía mình. Nhìn kỷ bà thấy một ngươi đàn ông tráng kiện uy nghi đứng trươc mặt bà và cúi đầu chào một cách lịch sự.

Bà thảng thốt kêu:

– Nầy tướng quân Gia Ðịnh, ngươi muốn gì?

Người được gọi là “tướng quân Gia Ðịnh” tức là Nguyễn Ánh, tiến quân từ Gia Ðịnh ra, cười và đáp:

– Xin bà đừng sợ, tướng Gia Ðịnh cũng là ngươi và có lẻ nhân từ hơn tướng Tây Sơn.

Bà Ngọc Bình lặng thinh. Vị tướng Gia Ðịnh nói tiếp một cách bóng bẩy:

– Dù triều đại có thay đổi như thế nào đi nữa, thì cung điện này cũng là của bà.

Bà Ngọc Bình đáp một cách cương quyết:

– Thưa tướng quân, (Nguyễn Ánh còn đang mặc quân phục tướng quân) đối với chúng tôi, cung điện này chỉ là một nhà tù.

Nói xong bà ôm mặt khóc nức nở. Nét mặt bà càng buồn đau càng quyến rủ, làm cho vị tướng ” Gia Ðịnh” mềm lòng say đắm. Chung quanh bà tỏa một mùi hương khêu gợi, khiến cho Nguyễn Ánh cảm thấy ngây ngất lạ lùng. Nguyễn Ánh cố giử bình tỉnh ráng gượng nén lòng rồi lui ra. Dù đã trải qua không biết bao nhiêu là người đẹp, nhưng Nguyễn Ánh nói thầm rằng: “Chưa có người nào đẹp tuyệt trần, hấp dẩn và đặc biệt có một mùi thơm quyến rủ đến như vậy.”

Một lúc sau, vị tướng “Gia Ðịnh” trở lại nội cung với trang phục uy nghi, vương hiệu lóng lánh trên ngực áo. bà Ngọc Bình nhận ra ngay đó là Nguyễn Vương, người cừu địch của nhà Tây Sơn. Nổi sợ hãi càng tăng thêm. Bà ôm mặt kêu rú lên. Nguyễn Vương nhẹ nhàng đến gần bên vỗ về.

– Bà là một hoàng hậu tuyệt vời! Mặc dầu có những đổi thay trong lịch sử. Xin bà hãy khuây khỏa, dẹp sợ hãy, ưu phiền. Cung điện lâu đài nầy vẫn thuộc về bà!

Biết không thể nào ngăn được ước muốn của Nguyễn Vương, bà Ngọc Bình (em của Ngọc Hân công chúa) đành phải xuôi theo số phận.

Năm 1802, Nguyễn Vương lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, bà Ngọc Bình được phong là thứ phi. Sau bà sinh h
được hai vị hòang tử là Quảng Oai Công (20-05-09) và Thường Tính Quận Vương (20-10-1810).

Phải chăng đây là trò chơi định mệnh? Công chúa út của vua Lê, bà Ngọc Bình công chúa lấy hai đời chồng đều làm vua (vua Cảnh Lợi và vua Gia Long). Dân gian lúc bấy giờ có câu hát:

” Số đâu có số lạ lùng!

Con vua mà lấy hai chồng làm vua.”

3-VUA NÀO ÐÃI CÁT TÌM VÀNG ÐỂ “NẠP PHI”

Cuối năm 1915 vua Duy Tân sắp lên 16 tuổi. Vị thượng thư Huỳnh Côn cắt nghĩa 2 chữ ” Nạp phi”, có nghĩa là vua lấy vợ, và hỏi:

-Ngài đã muốn lấy vợ chưa?

Vua duy Tân không tỏ ra bẻn lẻn và cũng không cần phải suy nghĩ đắn đo nhiều, ông đáp:- Vận nước mới đáng lo, chuyện nạp phi không gấp. Nếu trì hoản được chậm bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu.

Việc từ chối ấy đến tai bà mẫu hậu (mẹ đẻ vua Duy Tân), bà rất lo buồn, bà gọi Duy Tân đến năn nỉ hết lời. Vốn là người con hiếu thảo. Duy Tân không thể từ chối, nên đã nhận lời.

Tin vua Duy Tân đồng ý nạp phi lan ra khắp kinh thành. Thế là các bà mệnh phụ, các quan đại thần có con gái, cháu gái, những người đã từng chơi trò cút bắt với nhà vua còn thơ ấu, vào chầu mẫu hậu nhắc lại các tên tuổi các con, các cháu của mình để mong có người lọt vào sự chú ý của mẫu hậu.

Nhà vua đã nhận được một danh sách 25 người ” con ông cháu cha”, ngài chẳng thấy thích thú gì, cứ hẹn nay hẹn mai, lần khấn mãi chẳng chịu chấm một cô nào. Chờ đợi một thời gian không đạt kết quả, mẫu hậu đâm ra thốt ruột. Bà đích thân cầm tờ danh sách 25 người đẹp chìa ra trước mặt vua và yêu cầu vua thích một cô nào thì phải chấm ngay. giọng của mẫu hậu hơi gay gắt: ” vua chịu nạp phi để sinh người nối nghiệp là hạnh phúc của trăm họ. đây là việc phải làm.”

Duy Tân biết không chần chừ được nửa bèn trả lời một cách thản nhiên.

– Con không thể chấm được ai cả, vì con đã có ngươi yêu rồi!

Bà mẫu hậu mừng rỡ, nước mắt tràn ra, bà hỏi giọng nóng hổi?

– Người yêu con ở mô? Lên mâ? tuổi?

– Ở Cửa Tù?g, hơn con một tuổi- Duy Tân nhỏ nhẹ đáp- nếu ả (mẹ) đồng ý thì con mới lấy.

Thế là đoàn thị vệ sắm sửa thuyền rồng để rướt mẫu hậu và Duy Tân đi chơi Cửa Tùng để xem mắt nàng dâu, và kỳ hẹn chỉ có trong mười ngày mà thôi

Ra Cửa Tùng chơi cả 5 ngày liền không thấy bóng dáng ai là người yêu của Duy Tân cả. Mẩu hậu hỏi thị vệ, thị vệ nói là Duy Tân có tiếp xúc với ai đâu. Ðến ngày thứ 8, người phụ trách thị vệ nêu một điều khó hiểu với Mẫu hậu:

Không hiểu sao mấy hôm nay mỗi lần ra bãi tắm, vua rất say mê việc đào bới cát, có khi đào rất sâu. Chúng tôi không hiểu, tâu thì ngài đáp: ” Ta đang đãi cát tìm vàng đây!”

Câu chuyện càng làm cho Mẫu hậu lo buồn, bà tỏ ra thất vọng. Bà hỏi Duy Tân:

– Ðã gần đến ngày thứ 10, ngày rời cửa Tùng rồi mà ả (mẹ) chưa gặp được người yêu của con. Sao con không cố tìm để ả (mẹ) gặp mà lại đi đào bới cát cả ngày rứa?

Duy Tân đáp thật tình mà nghe như nói chơi:

-Con đào bới cát chính là để tìm người yêu đó!

Mẫu hậu vô cùng ngạc nhiên , bà không nán được sự buồn bực đến tột độ, nói như quở trách con:

– Con có điên không? Lại đi tìm người yêu trong cát?

Duy Tân giải thích một cách từ tốn:

– Con không điên đâu. Con nói thiệt đó. Ả (mẹ) đừng buồn nửa . Nếu ở đây con không tìm được thì về Huế thế nào ả cũng gặp được.

Lúc nầy Mẫu hậu mới vở lẻ hiễu sự thật:

– Thế thì Ả (mẹ) hiểu rồi. Ðãi cát tìm vàng. Nhười yêu của con tên là Vàng, Mai Thị Vàng con gái của quan phụ đạo Mai Khắc Ðôn chứ gì?

Vua Duy Tân giọng rất vui:

– Thưa ả (mẹ) đúng thế, vậy ả có bằng lòng không?

Mẫu hậu đáp:

– Ả bằng lòng, nhưng tại sao con lại chọn như thế?

Vua Duy Tân đáp:

– Vì thân phụ của Mai Thị Vàng là thầy Ðôn người đã dạy con biết chữ, dạy con biết thương nước, thương dân, biết trọng dụng kẻ trung thần và xa lánh bọn nịnh thần. Con tin rằng cô Vàng cũng đã từng được thầy dạy như rứa!

Mẫu hậu vui vẻ hỏi:

– Thế thì con có muốn thành hôn trứơc Tết không?

Vua Duy Tân đáp:

– Hãy thong thả, càng chậm càng tốt. Dăm ba năm nửa chúng con chỉ mới đôi mươi thôi!

-Nhưng ý kiến nhà vua không được chấp thuận. Theo tử vi thì nhà vua phải nạp phi ngay. Ngày 12 tháng chạp năm Ất mão (16-1-1916) được chọn ngày làm lễ nạp phi cho vua.

***

Vua Duy Tân là vị vua yêu nứơc, bị thực dân Pháp đày ra côn đão Reunion ở Trung Phi và bị tử nạn năm 1945, một trừơng hợp mà cho đến nay chưa có một sự giải thích thỏa đáng nào về tai nạn nầy. Ngài cũng có một bà vợ đầm tên Fernande Anter. Năm 1988 bà có về thăm quê chồng, cùng đi với bà có vợ chồng ngừơi con trai út Joseph Roger (sinh năm 1938). Khi tiếp xúc với phái đoàn báo chí Việt Nam bà cho biết; Bà quen biết Duy Tân và yêu nhau vì quý trọng nhau chớ không vì ông là vua Việt Nam và bà có đề nghị với vhính quyền Việt Nam rằng: ” Ở Hà Nội, Sài Gòn, Huế và nhiều thành phố trứơc kia có đừơng Duy Tân, sau ngày 30-4-1975, một số nơi đã bỏ, chúng tôi (gia đình Duy Tân) mong sớm có những con đừơng mang tên Duy Tân, đặc biệt là ở Huế.

4- VUA NÀO LẤY CHÚ LÀM CON?

Vua Ðồng Khánh sinh đựơc 6 trai và 2 gái, nhưng chỉ nuôi dưởng một trai là Bửu Ðảo tứơc hiệu là Hoàng Phụng Hóa Công – Hoàng Phụng Hóa Công lấy con quan đại thần Trương Như Cương. Cuộc hôn nhân đựơc kể là tuyệt vời. Hôn lể thật linh đình giữa một gia đình quan đại thần giàu có, quyền cao chức trọng nhất nứơc và gia đình của một vị vua tương lai. Nào ngờ Bửu Ðảo là ngừơi ham mê cờ bạc, tiêu xài vàng bạc thật nhiều và lại là ngừơi bất lực, sau gia đình bên vợ biết đựơc, bất bình đã mắng nhiết chàng rể là: “Ðồ bất lực vô hậu.” Chuyện đến tai bà Thánh cung và Tiên cung (mẹ đẻ Bửu Ðạo) làm bà lo buồn, biếng ăn, mất ngủ vì chẳng người thừa kế. Bửu Ðảo cũng là ngừơi con có hiếu, đem câu chuyện của mình tâm sự với một ngừơi trong hoàng tộc thuộc bật ông – là cụ Hừơng. Cụ Hừơng là vai ông của Bửu Ðảo, nhưng tuổi tác lại trạc ngang nhau. Ðã chơi thân từ còn nhỏ, nên dể tâm sự và giúp đở lẫn nhau.

Lần nầy Bửu Ðảo đã rất vui mừng khi đựơc nghe ông cụ Hừơng dựng nên câu chuyện sau đây:

Phụng Hóa Công vốn là ngừơi bất lực, nhưng một hôm Công bắt đựơc một con chồn hương, mgười nhà đã hầm con chồn hương với sâm nhung và nhiều vị thuốc bắc bổ dưởng khác. Buổi tối Công uống rượu và ăn món hầm đại bổ ấy liền cảm thấy hứng khởi và nổi cơn “đòi phụ nữ”. Cái phúc thần hạnh phúc ấy đến đột ngột, sợ nó tan biến đi nên sẳn có cô Hòang Thị Cúc đang ở trong nhà. Công gọi đến “dùng” và may mắn cô Cúc đã thọ thai!

Tin cô Cúc có thai vơi Bửu Ðảo đến tới tai bà Thánh cung và Tiên cung và những thân nhân trong gia đình Phụng Hóa xem như một phép lạ.

Ðể xác minh thực hư, các bà đã sai đào một cái hố sâu khoản hai tấc, bảo cô Cúc nằm sấp, để cái bụng có mang nằm lọt dưới hố, rồi dùng roi đánh hỏi tra xét cô Cúc đã lấy ai mà dám vu cho Phụng Hóa Công. Cô Cúc cắng răng chịu đựng hình phạt và chỉ một mực khai là chị có mang với Bủu Ðảo mà thôi. Có lẻ vì ngừơi cầm roi không giám đánh mạnh, sợ làm hư thai rồng thì sẽ mang trọng tội.

Thế là các bà mừng rở công bố cho hoàng tộc biết Phụng Hóa Công sắp có con. Tất cả dù tin hay ngờ điều phải nhận như thế.

Sự thật, theo ông Phan Văn Vật và ông Ngũ Ðẳng thị vệ Nguyễn Ðắc Vọng thì cô Cúc đã mang thai với cụ Hường từ trứơc và đựơc cụ Hường nhường cho cái bào thai. Bửu Ðảo rất hàm ơn ngừơi ông, đúng ra Bửu Ðảo phải gọi cái thai ấy là chú (vì con của ông) mà lại là con của mình – Thì ra vua Khải Ðịnh đã nhận chú làm con. Nói một cách khác vua Bảo Ðại gọi cha ruột của mình là ông mà ông họ hàng xa lắc. Có một lần vào đại nội thăm viếng Hoàng Ðế Bảo Ðại thì ông Hừơng đã bị mật thám ngăn trở không cho gặp. Về nhà ông ôm đầu bực tức và quở lớn tiếng rằng: ” Ðồ chó má, tao là cha vua mà tụi no, bọn Bạch quỷ chẳng nể nang chi!

5 – AI LÀ VỢ CẢ VỢ HAI, HAI VỢ ÐỀU LÀ VỢ CẢ?

Vợ cả vợ hai, hai vợ đều là vợ cả. Ðây là câu mà người bình dân như chúng ta thường nghe nói để ám chỉ người có hai vợ nên xử lý cho công bằng dù là vợ bé hay vợ lớn. Còn dính dáng với hoàng tộc thì là cả vấn đề rắc rối.

Người đỗ đạt đầu tiên (Cử Nhân), Hương Cống của tỉnh Quảng Ngãi là Ông Trương Ðăng Quế. Năm Minh Mạng lên ngôi (1820) ông được bổ làm hành tẩu bộ Lễ. Trải qua 43 năm phục vụ ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức. Ông làm quan tới chức Cần Chánh Ðiện Ðại Học Sĩ, Cố mệnh lương thần, hàm Thái Bảo, tấn phong tước Tuy Thạnh Quận Công.

Trước khi làm quan, ông Trương đã có vợ là bà Bùi Thị Hương và có 3 con, một trai và hai gái. Mặc dù biết ông đã có vợ, nhưng vua Minh Mạng vẫn ép gả quận chúa Ngọc Lê cho Ông. Ông Trương biết bà Quận Chúa con gái của Phúc Long (Chú của vua Gia Long) rất danh giá, nhưng không nỡ phụ lòng người vợ đang chờ ở quê nhà, lấy nhau từ thuở hàn vi. Ông Trương không dám nhận cuộc hôn nhân do vua Minh Mạng xếp đặt. Ông lật đật đến trước bệ rồng, quỳ lạy:

– Muôn tâu bệ hạ, xin đội ơn bệ hạ đã có lòng thương tưởng đến hạ thần, nhưng hạ thần đã có một hiền thê ở quê nhà.

Vua Minh Mạng:

– Trai năm thê bảy thiếp là thường, như

trẫm đây, không biết có bao nhiêu là thê, bao nhiêu là thiếp, mà còn có bao nhiêu là cung tần mỹ nữ đang dự tuyển nửa. Bây giờ mà trẫm từ chối con gái của một Ðại Thần nào là trẫm sẽ bị mất lòng, sẽ bị ảnh hưởng đến ngai vàng của trẫm. Còn khanh, chỉ có một vợ, bây giờ cưới thêm một quận chúa nữa cũng có sao đâu.

Ông Trương lại tìm cách thối thác:

-Như thế thì thật là bất tiện cho thần.

Vì thần đã
có vợ, nếu bà quận chúa, con gái của Quốc Thúc lấy thần đâu có chịu làm vợ thứ của thần. Vợ của thần đã có con, là người vợ chính thức của thần lẽ nào bắt nàng phải làm thứ thất!?

Vua Minh Mạng bảo Trương:

– Chính hay thứ cũng chỉ do chữ nghĩa

mà ra thôi. Ðó là việc nhỏ. Chuyện thần cưới bà quận chúa, cô của ta mới là chuyện hệ trọng. Nếu nhà ngươi bằng lòng ta sẽ có chữ để làm vừa lòng các bà ấy.

Biết không thể chối từ, nhất là đối với

ông vua chủ trương đa thê như vua Minh Mạng, Ông Trương khấu đầu đợi lệnh.

Vua Minh Mạng ban chiếu chỉ:

– Bà Bùi Thị Hương là người thành gia

thất với khanh trước dành cho bà ngôi Tiên Thất, quận chúa Ngọc Lê kết duyên theo hoàng tộc thì ở ngôi Chánh thất.

Về sau bà chánh thất Ngọc Lê sinh hạ được 4 người con trai: Trương Quang Ðản làm quan đến Cơ Mật viện đại thần, Phụ Chánh đại thần (Triều Ðồng Khánh); Trương Quang Ðể theo vua Hàm Nghi. Trương Quang Ðiềm làm Tư Vụ; Trương Quang Du làm Tán tương quân vụ.

Con trai bà Tiên Thất là Trương Quang Trụ lấy công chúa An Mỹ, con gái thứ tư của vua Thiệu Trị, người con gái là Trương Thị sáu gả cho học trò của ông là Tùng Thiện Vương. (Ở Gò Công có tên đường Tùng Thiện Vương). Con cái, cháu của hai bà Tiên và Chánh Thất đều là những người danh giá, không phân biệt dòng lớn bé; đúng như câu: “Vợ cả vợ hai, hai vợ đều là vợ cả”. Tiên và Chánh ai lớn hơn ai?

6- CÔNG CHÚA NÀO SỐNG LÂU HƠN CẢ?

Ðặc biệt các công chúa triều Nguyễn sống rất lâu. Chỉ có công chúa Tĩnh Hão chị ruột của vua Tự Ðức là bất hạnh, bà mất đúng vào ngày vua Tự Ðức lên ngôi. Công chúa sống lâu nhất có lẻ là công chúa Như Mai, con vua Hàm Nghi. (Trong Các cháu, Bà Từ Ðủ thương nhất là vua Hàm Nghi) Công Chúa Như Mai sanh năm 1905, bà là người Việt Nam đầu tiên (không biết có người Việt Nam nào thứ hai đổ thủ khoa nửa chưa?!) đổ thủ khoa bằng Thạc Sĩ Nông Lâm tại Pháp. Kết quả nầy làm ngạc nhiên các giới báo chỉ tại Paris lúc bấy giờ. Trong tờ báo Ilustration, ký giả Jules Vogue đã viết một bài vừa ca tụng cốt cách của bà chẳng những là tài năng vượt bực hơn hẳn các học sinh khoa học Âu Mỹ; chẳng chỉ một bằng Thạc Sĩ Nông Lâm mà còn nhiều bằng cấp khác về hóa học và khoa học khác. Trong suốt thời gian theo học bà thường phục sức theo kiểu đàn bà Việt Nam và được mệnh danh là cô An Nam. Các nhà báo hỏi vì sao, thì bà trả lời là “Ðể theo ý muốn của vua Hàm Nghi”. Suốt cuộc đời của công chúa Như Mai là phục vụ cho khoa học và xã hội, bà không lập gia đình. Hiện nay bà sống trong viện dưỡng lão của Pháp. (Hơn 100 tuổi rồi còn gì!? Khi đang viết bài nầy và đến khi lên báo biết bà có còn sống hay là đã theo vua Hàm Nghi rồi ?)

7 – CẶP ẤN KIẾM TRIỀU NGUYỄN HIỆN GIỜ Ở ÐÂU?

Bảo Ðại là vị vua cuối cùng của Việt nam. Ông đã đang cất giữ cặp ấn kiếm tượng trưng uy quyền, vương quyền của Hoàng triều Ðời Nguyễn. Theo sự kiện lịch sử thì vào chiều ngày 30-8-1945 trên lầu Nguyệt Phụng cửa Ngọ Môn Thành Nội Huế, vua Bảo Ðại đã đọc chiếu thóai vị và đem ấn kiếm lịch sử nầy trao lại cho chính quyền Lâm Thời Việt Nam (do Trần Huy Liệu đại diện), đánh dấu ngày cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam từ lúc đó. Nhân dân chính quyền cộng sản tửơng rằng Quốc Ấn và Quốc Kiếm đã được nhiều ngừơi có trách nhiệm gìn giử như những món Quốc Bảo của dân tộc. Thật ra theo tài liệu mới nhất (từ cuối năm 1996) theo bà Bùi Mộng Ðiệp ” Thứ Phi” của cụ Hoàng Bảo Ðại cho biết: Cặp Ấn Kiếm mà ông Bảo Ðại đã trao cho chính phủ Lâm thời Việt Nam vì sao (không rỏ tại sao) đã lọt vào tay ngừơi Pháp và họ đã trả lại cho Bảo Ðại từ năm 1952. Khi trao trả lại Ấn Kiếm thì Bà Nam Phương Hoàng Hậu và Bảo Ðại đang ở Pháp. Bà mẹ của Bảo Ðại (Bà Từ Cung) và thứ phi (Bà Mộng Ðiệp) tiếp nhận. Bà Mộng Ðiệp vì chưa bao giờ được thấy báu vật nầy nên phân vân không biết có đúng thật là Ấn Kiếm mà cựu Hoàng Bảo Ðại trao cho ông Trần Huy Liệu năm 1945 hay không. Cho nên bà mời Ðức bà Từ Cung (Mẹ của cựu Hoàng Bảo Ðại, tước hiệu là Ðoan Huy Hoàng Thái Hậu) đến để nhận diện. Bà Từ Cung bắt phải đặt lên một cái bàn ở giữa sân, phủ khăn đỏ lạy Ấn Kiếm 5 lạy rồi mới được xem (Theo lệ thì lạy người sống 2 lạy, lạy bàn thờ ông bà thì 4 lạy, còn lạy 5 lạy là dành cho vua). Bà Từ Cung nói: “Tôi vào làm dâu Nhà Nguyễn bao nhiêu năm mà tôi có được trông thấy bao giờ đâu. Tôi có nghe nói khi có một ông vua chết và có một người kế vị lên ngôi thì mới cử 4 ông Tứ Trụ Triều Ðình vào điện Càng Thành thỉnh cái ấn ra dùng. Người kế vị phải lạy cái Ấn 5 lạy rồi mới được “bước lên ngôi”.

Từ năm 1953, chiến tranh trở nên ác liệt, không dám đem cặp Ấn Kiếm về Huế. Cuối cùng Bảo Ðại giao nhiệm vụ (Ban chiếu chỉ = viết giấy) trao cho bà Mộng Ðiệp – (Thứ phi của vua Bảo Ðại) sang Pháp cùng với một số tư trang quý giá mà trao cho Bà Nam Phương Hoàng Hậu bảo quản (Hơn 600 món quý giá) Trong lúc tiếp nhận Â? Kiếm có các ông Nguyễn Ðệ, Nguyễn Duy Quang, Nguyễn Tiến Lãng và Phạm Bích (Con Phạm Quỳnh). Bốn người bưng hai cái Ấn Kiếm lên giúp bà Hoàng Hậu đưa vào tủ sắt. Ðiều này chứng tỏ cụ Hoàng Bảo Ðại đã thương yêu, tín cẩn Hoàng Hậu Nam Phương biết dường nào.

Ðến đây, tác giả cũng muốn nói thêm về bà Hoàng Hậu . Những chuổi ngày sau cùng của Hoàng Hậu Nam Phương sống trong một lâu đài tên Domain de la Perche, rộng trên hai trăm năm muôn hecta đất. Trong đó ở lâu đài tự làm nho, nước táo, bơ, pho mat, thịt bò, thịt chồn dùng quanh năm s
uốt tháng (ở Việt Nam, không nghe nói có lâu đài chỉ có dinh thự mà thôi.) Bà Nam Phương Hoàng Hậu là người yêu nước, bà đã gởi thông điệp kêu gọi thế giới ngăn chặn bàn tay xâm luợc của quân đội Pháp. Bà đã được người Pháp rất kính nễ. Khi bà chết 1963, trước lăng mộ của bà ở Chabrignac có trồng hai cây tùng, ở giũa mặt hai tấm bia có một dòng chữ Hán: ” Ðại Nam Nam Phương Hoàng Hậu chi lăng (Lăng mộ của bà Hoàng Hậu Nam Phương của nước Việt Nam). Ngay trên tấm mộ có một tấm bảng ghi bằng tiếng Pháp: ” Ici repose L’ Impératrice d’ Annamienne Jeanne Mariette Nguyen Huu Hao” (Ðây là nơi an nghỉ của bà Hoàng Hậu Việt Nam tên Jeanne Mariette Nguyễn Hữu Hào) (Tên cụ thân sinh của bà, tiếng Pháp sử dụng như họ của bà.)

Theo lời bà Mộng Ðiệp (1999): “cuối cùng cụ Hoàng viết giấy (chiếu chỉ) giao cho tôi (Mộng Ðiệp) mang sang Pháp cùng với một số tư trang thật quý giá- trong khi tôi giao các báo vật ấy lại cho Hoàng Hậu Nam Phương và Hoàng Tử Bảo Long còn có mặt các ông Nguyễn Ðộ, Nguyễn Duy Quang, Nguyễn Tiến Lãng, Phạm Bích (con ông Phạm quỳnh). Bốn người bưng hai Ấn kiếm lên và giúp bà Nam Phương đưa vào tủ sắt.

Nếu bà Hoàng Hậu Nam Phương còn sống thì việc quản thủ Ấn kiếm không có gì xảy ra. Vì bà là người hợp pháp quản thủ có chiếu chỉ do bà thứ phi Mộng Ðiệp đích thân trao nhận. Nhưng sau khi bà Hoàng Hậu Nam Phương mất năm 1963 thì Ấn kiếm lịch sử nầy nằm trong tay Hoàng Thái Tử Bảo Long và hai quý vật nầy được giữ tại tủ sắt của Liên Hiệp Ngân Hàng Âu Châu (Union des Banques Européennes) . Năm 1980, ông Bảo Ðại xuất bản tập hồi ký (Le Dragon d?Annam = Con Rồng An Nam), ông muốn mượn con dấu lịch sử đó để làm ấn ký đặt vào cuối chương hồi ký của ông, nhưng Bảo Long không cho mượn. Ông Bảo Ðại hết sức bực mình nhưng không làm gì lay chuyển được Bảo Long. Có lẽ vì vậy ông làm đơn kiện Bảo Long (1982). Kết quả tòa án Pháp xử Bảo Long được giử cây Quốc Kiếm còn Bảo Ðại thì giử Quốc Ấn.

Quốc Ấn này ngòai giá trị về lịch sử, nó còn là vàng ròng nặng 13 ký. Vì vậy ai ai cũng muốn làm chủ quyền. Bà Mộng Ðiệp quả quyết chính tay bà cân chiếc Ấn nặng 12,9 kg – Cái mũ Ấn hình con rồng, con rồng uốn cong và ngốc đầu lên. Ðầu rồng đính hai hạt ngọc đỏ. ” Tôi lật nó lên có bốn chử triệnở dưới ấy là “Nguyễn triều chi bảo“.

Sau khi Bảo Ðại băng hà 1997 . Ðúng ra của quý Nguyễn Triều Chi Bảo phải truyền lại cho Bảo Long Hoàng Thái Tử. Nhưng theo luật Tây Phương thì những gì của chồng, chồng chết thì là của vợ, vợ hưởng. Chẳng may bà nầy lại là bà Ðầm! (Bà Monique Baudot). Ấn quốc và Kiếm quốc lại xa nhau. Lại một lần nữa phiêu bạt giang hồ! Sau nầy Bảo Long đã bán đấu giá cây Quốc Kiếm nầy cho một người Pháp, đã có chụp ảnh với người mua đứng giữa cầm kiếm và hai vợ chồng đứng hai bên! Lại có nguồn tin rằng Bà Ðầm cũng đã bán đấu giá chiếc Bảo Ấn cho một người Pháp khác. luật lệ của vương quyền để lấy lại những gì mà Cha truyền thì Con giữ theo truyền thống của vương tộc. (Ðến đây tác giả xin trích đoạn sau cùng trong cuốn CHIẾC BẢO ẤN CUỐI CÙNG CỦA HOÀNG ÐẾ VIỆT NAM CỦA LÊ VĂN LÂN : “Cựu Hoàng Bảo Ðại tỏ ra vui mừng và kín đáo bảo rằng chiếc ấn “Hoàng Ðế Chi Bửu” đã truyền cho Thái Tử Bảo Long!)

Nếu có truyền lại cho Bảo Long thật, thì đây là chiếc ấn khác (Bởi vì Triều Nguyễn có rất nhiều bảo Ấn.) Với chiếc Bảo Ấn lịch sử mà tác giả cũng như mọi người Việt Nam muốn biết hiện giờ nó ở đâu và chừng nào mới đoàn tụ được với

Quốc Kiếm thì đó là chuyện thật mơ hồ huyền thoại, vì không biết nó đang ở đâu thì làm sao và biết chừng nào mới Châu Về Họp Phố được.

Sách tham khảo:

– Chiếc Bảo ấn cuối cùng của Hoàng Ðế Việt Nam của Lê Văn Lân

– Chuyện nội cung các vua của Nguyễn Ðắc Xuân

– Qua Pháp tìm Huế xưa của Nguyễn Ðắc Xuân

– Bảo Ðại Vị Vua Triều Nguyễn Cuối Cùng của Phan Thu Lang

Chừng nào mới Châu Về Hợp Phố. Nghe nói rằng Bảo Long đã bán cây Quốc Kiếm cho một viện Bảo Tàng ở bên Pháp, Còn Quốc Ấn thì hiện thời không biết ở đâu, nhưng Ông Hoàng Thái Tử Bảo Long đã đệ đơn lên tòa án quốc tế để kiện theo.

Tháng Hai 25, 2009 - Posted by | Lịch sử-Quân sự-Chính trị, Uncategorized |

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: